TUẦN III THƯỜNG NIÊN, NĂM CHẴN
THỨ HAI
2Sm 5,1-7.10; Mc 3,22-30
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Máccô
Khi ấy, các kinh sư từ Giêrusalem xuống nói rằng: “Ông ấy bị quỷ vương Bêendêbun ám và nhờ tướng quỷ mà ông trừ quỷ.” Đức Giêsu gọi họ lại, dùng dụ ngôn mà nói với họ: “Satan làm sao trừ Satan được? Nước nào tự chia rẽ thì không thể bền, nhà nào tự chia rẽ thì không thể vững. Nếu Satan chống lại chính mình và bị chia rẽ, thì nó không thể tồn tại, mà đã tận số.
Không ai có thể vào nhà một người mạnh mà cướp của được, nếu không trói người mạnh ấy trước đã; rồi mới cướp sạch nhà nó.
Thật, Ta bảo thật các ông: mọi tội lỗi và lời phạm thượng người ta nói đều sẽ được tha; nhưng ai nói phạm đến Chúa Thánh Thần thì muôn đời không được tha, mà còn mắc tội muôn đời.” Đó là vì họ đã nói: “Ông ấy bị thần ô uế ám.”
Suy niệm
Câu chuyện chúng ta vừa nghe theo thánh Máccô thuộc giai đoạn Chúa Giêsu bắt đầu được biết đến rộng rãi nhờ lời giảng dạy đầy uy quyền, các phép lạ Người thực hiện, và sức thu hút mạnh mẽ đối với quần chúng. Càng ngày càng có nhiều người tuôn đến với Người. Chính điều này đã khiến người thân của Chúa Giêsu lo lắng, đồng thời làm cho các đối thủ của Người bất an.
Các kinh sư từ Giêrusalem nghe tin đã không thể ngồi yên. Họ đến với một mục đích rõ ràng: đánh vào uy tín của Chúa Giêsu và làm giảm lòng mến mộ của dân chúng. Trong khi người bình dân tin rằng các phép lạ Chúa Giêsu làm là do quyền năng Thiên Chúa, thì giới lãnh đạo tôn giáo lại gán cho Người tội có quỷ ám, hoặc trừ quỷ nhờ quyền lực của quỷ vương.
Như chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu không trực tiếp trả lời rằng Người trừ quỷ nhờ quyền lực nào, nhưng Người cho thấy Người chính là “Đấng mạnh hơn” đã đột nhập vào vương quốc của Satan, trói kẻ mạnh, và cướp lấy quyền thống trị của nó. Theo Chúa Giêsu, ma quỷ vẫn đoàn kết với nhau, vẫn quyết liệt làm hại loài người. Thế nhưng, giờ đây Thiên Chúa đã đến thiết lập Nước Trời, và chính Chúa Giêsu là Đấng Mêsia được sai đến để chiến thắng quyền lực ma quỷ, đúng như các ngôn sứ từng loan báo.
Chúa Giêsu không thắng quỷ nhờ quỷ, nhưng thắng nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần ngự trong Người, nhờ sự kết hợp trọn vẹn của Người với Chúa Cha, và nhờ lòng trung thành tuyệt đối với sứ mạng Thiên Chúa trao phó. Chính vì thế, chỉ có Chúa Giêsu mới đẩy lùi được ma quỷ, mới là trung gian duy nhất mang lại ơn cứu độ. Ai không chịu tin vào Người, không nhận ra và đón nhận những dấu chỉ Người thực hiện, thì người ấy đã xúc phạm đến Chúa Thánh Thần, phạm thứ tội mà Chúa Giêsu gọi là “không thể tha được”, bởi vì họ tự loại mình ra khỏi nguồn mạch cứu độ. “Không thể tha” ở đây không phải vì Thiên Chúa không muốn tha, nhưng vì con người cố tình khước từ ân sủng cứu độ.
Câu trả lời của Chúa Giêsu giúp chúng ta nhận ra nguồn gốc đích thực của sức mạnh nơi Người: đó là sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, là mối hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa, và là lòng trung thành với sứ mạng. Từ đó, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hiểu cho đúng về “sự đoàn kết” mà Người nói tới. Trên bình diện thiêng liêng, hay trong thực tại Nước Trời, chỉ có sự gắn bó và hiệp thông với Thiên Chúa mới thực sự là nguồn sức mạnh. Những hình thức đoàn kết khác, nếu không đặt nền tảng trên mối hiệp thông với Thiên Chúa, thì tự chúng không bảo đảm mang lại sức sống và hoa trái lâu dài.
Bằng chứng rõ ràng nhất là chính ma quỷ: chúng vẫn liên kết với nhau, nhưng vương quốc của chúng vẫn bị đe dọa và cuối cùng bị đánh bại bởi sự hiện diện của Đức Giêsu Kitô.
Bài đọc thứ nhất cho chúng ta một minh họa lịch sử cụ thể. Khi vua Đavít mới lên ngôi, nhờ có sự đoàn kết giữa nhà vua và các chi tộc Ítraen, ông đã đánh bại dân Giêbusê tại Giêrusalem và đưa đất nước bước vào thời kỳ phồn thịnh. Tuy nhiên, sự đoàn kết thuần túy về chính trị ấy không đủ để giúp dân Ítraen đứng vững lâu dài. Đặc biệt, khi con người đoàn kết với nhau trong tội lỗi, khi họ cùng nhau sống ngược lại giao ước với Thiên Chúa, thì cho dù có đoàn kết đến đâu, đất nước và cộng đoàn ấy vẫn rơi vào diệt vong.
Trong đời sống Hội Thánh và đời sống thiêng liêng của mỗi người chúng ta cũng vậy. Chỉ khi cá nhân chúng ta gắn bó với Chúa Kitô, chúng ta mới có sức mạnh để chiến thắng tội lỗi, mới có thể phục vụ Hội Thánh một cách sinh hoa kết quả. Những lúc chúng ta xa lìa Đức Giêsu Kitô, sống ngược lại sứ mạng Người trao phó, nghĩa là không cộng tác với Chúa Thánh Thần đang ngự trong chúng ta, thì chúng ta sẽ không thể mang lại ích lợi thực sự cho Hội Thánh và cho Nước Trời.
Chúa Giêsu hiện diện trên bàn thờ là Đấng đầy tràn quyền năng Thánh Thần và không ngừng ban sức mạnh cho Hội Thánh. Xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết gắn bó mật thiết với Người, để nhờ đó chúng ta luôn trung thành với Chúa và trở nên những dụng cụ hữu hiệu trong công trình xây dựng Nước Trời.
Gợi ý xét mình
1. Tôi đang tìm kiếm sức mạnh cho đời sống đức tin của mình nơi đâu: nơi sự gắn bó với Chúa hay nơi những hình thức đoàn kết và bảo đảm thuần túy của con người?
2. Trong đời sống và sứ vụ của tôi, đâu là những dấu hiệu cho thấy tôi thực sự đang cộng tác với Chúa Thánh Thần, chứ không chỉ hành động theo ý riêng mình?
THỨ BA
2 Sm 6,12b-15.17-19; Tin Mừng: Mc 3,31-35
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Máccô
Khi ấy, mẹ và anh em Đức Giêsu đến, đứng ở ngoài, cho gọi Người ra. Đám đông đang ngồi chung quanh Người. Có kẻ nói với Người rằng: “Thưa Thầy, có mẹ và anh em chị em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy.”
Nhưng Người đáp lại: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” Rồi Người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.”
Suy niệm
Trong mọi vấn đề, nếu muốn biết ý nghĩa hay lập trường của Thiên Chúa, chúng ta phải nhìn xem Chúa Giêsu đã làm gì và lắng nghe Người đã nói gì. Vậy đối với các mối liên hệ ruột thịt, huyết tộc, hay tình nghĩa anh em, Thiên Chúa nghĩ như thế nào?
Câu trả lời của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay thật là một mạc khải lớn lao: “Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em và là mẹ của tôi.” Trước hết, lời này giải tỏa những ước mơ thầm kín, cũng như những so sánh hay phân bì của chúng ta, khi chúng ta không được thuộc về dòng họ hay huyết tộc của Chúa Giêsu, hoặc khi chúng ta cảm thấy mình không được như người khác.
Trong cuộc sống, có lẽ không ít lần, khi nghe kể về Chúa Giêsu, chúng ta đã từng ước ao mình được sinh ra trong gia đình của Người, được sống cùng thời với Người, được ở gần Người cách cụ thể. Đặc biệt, khi không thỏa mãn với gia đình, hoàn cảnh hay giai tầng xã hội mà mình đang thuộc về, chúng ta dễ nảy sinh ước muốn được mang thân phận khác, được hưởng những “diễm phúc” như người này, người kia.
Nhưng thực tế cho thấy: chúng ta không bao giờ hoàn toàn thỏa mãn với hoàn cảnh cụ thể của mình. Dù ở địa vị nào, thế nào cũng có những giới hạn, những thiếu thốn, những thiệt thòi so với điều chúng ta mơ tưởng. Chính trong bối cảnh đó, câu trả lời của Chúa Giêsu hôm nay trở thành một Tin Mừng đích thực: Người không coi trọng mối liên hệ máu mủ theo nghĩa tự nhiên, không lấy địa vị xã hội hay xuất thân gia đình làm điều kiện bắt buộc để con người trở nên thân thích với Người.
Điều kiện để chúng ta trở nên anh chị em của Chúa Giêsu nằm ở một điểm khác, và đó là điểm cốt yếu: thi hành ý muốn của Chúa Cha. Thiên Chúa muốn và chờ đợi mỗi con người đáp lại tình thương của Ngài cách ý thức, tự do và tự nguyện. Việc chúng ta sinh ra là người nghèo hay người giàu, thuộc về một quốc gia phát triển hay lạc hậu, sống trong một gia đình khá giả hay túng thiếu, việc chúng ta thông minh hay kém cỏi, giữ địa vị cao hay thấp trong xã hội – tất cả những điều đó không phải là tiêu chuẩn quyết định trước mặt Thiên Chúa.
Những điều ấy phần lớn là do hoàn cảnh lịch sử, xã hội, hoặc do sự an bài phong phú và mầu nhiệm của Thiên Chúa. Điều quan trọng nhất là: trong hoàn cảnh cụ thể của mình, con người có biết ý thức và tự do đáp lại tình thương của Thiên Chúa, có sẵn sàng tìm kiếm và thực thi ý Ngài hay không. Và điều này thì nằm trong khả năng của mọi người. Người nghèo, kẻ thấp hèn, người ít học cũng có thể làm được; người giàu có, trí thức hay quyền thế cũng có thể làm được. Vấn đề chỉ còn là: chúng ta có thực sự muốn trở nên anh chị em của Chúa Giêsu hay không.
Bài đọc I hôm nay, qua câu chuyện vua Đavít, cũng minh họa rất rõ cho chân lý ấy. Để làm đẹp lòng Thiên Chúa, không nhất thiết phải là người nghèo hèn, quê mùa hay tầm thường. Đavít, dù là vua của một dân tộc, vẫn có thể làm đẹp lòng Thiên Chúa khi ông rước Hòm Bia Giao Ước về Giêrusalem. Trước nhan Chúa, ông như quên hẳn địa vị cao sang của mình, trở nên một người con đơn sơ, chân thành, nhảy múa vui mừng trước mặt Thiên Chúa.
Bởi đó, dù hiện nay chúng ta đang thuộc về một gia đình nghèo khó hay mang địa vị thấp bé trong xã hội, chúng ta cũng không có lý do gì để mặc cảm. Chúng ta vẫn có thể thực thi ý Chúa và trở nên anh chị em của Chúa Giêsu. Điều duy nhất chúng ta cần xin với Chúa Giêsu – Người Anh Cả của chúng ta – là ơn biết ngày càng quảng đại đáp lại tình thương vô biên của Chúa Cha, đặc biệt là biết sống quảng đại và khiêm tốn hơn nữa khi chúng ta đang ở trong những hoàn cảnh thuận lợi hơn người khác.
Gợi ý xét mình
1. Trong đời sống hằng ngày, tôi đang tìm kiếm giá trị và căn tính của mình nơi đâu: nơi hoàn cảnh, địa vị và các mối quan hệ tự nhiên, hay nơi việc thi hành ý muốn của Thiên Chúa?
2. Có điều gì trong lối sống, lựa chọn hoặc thái độ của tôi hôm nay cho thấy tôi thực sự muốn trở nên “anh chị em của Chúa Giêsu” theo nghĩa Tin Mừng không?
THỨ TƯ
2 Sm 7,4-17; Mc 4,1-20
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Máccô
Khi ấy, Đức Giêsu lại bắt đầu giảng dạy bên bờ biển. Một đám rất đông tụ họp chung quanh Người, nên Người xuống thuyền mà ngồi ngoài biển, còn toàn thể đám đông thì ở trên bờ. Người dùng dụ ngôn mà dạy họ nhiều điều. Trong lúc giảng dạy, Người nói với họ:
“Các người nghe đây! Người gieo giống đi gieo hạt. Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. Có hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu. Nhưng khi mặt trời mọc lên, nó bị nắng gắt làm cháy và vì không có rễ nên bị chết khô. Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt và không sinh hoa kết quả. Có những hạt rơi vào đất tốt, nó mọc lên và sinh hoa kết quả: hạt thì được ba mươi, hạt thì được sáu mươi, hạt thì được một trăm.”
Rồi Người nói: “Ai có tai để nghe thì hãy nghe.”
Khi Đức Giêsu ở một mình, những người ở chung quanh Người cùng với Nhóm Mười Hai hỏi Người về các dụ ngôn. Người nói với họ: “Mầu nhiệm Nước Thiên Chúa thì được ban cho anh em; còn với những người ở ngoài, thì mọi sự đều phải dùng dụ ngôn, để họ có nhìn cũng không thấy, có nghe cũng không hiểu, kẻo họ trở lại và được ơn tha thứ.”
Người nói với họ: “Anh em không hiểu dụ ngôn này sao? Thế thì làm sao anh em hiểu được tất cả các dụ ngôn? Người gieo giống là gieo Lời. Những kẻ ở bên vệ đường, nơi Lời được gieo, là những kẻ khi vừa nghe thì Satan liền đến cướp đi Lời đã gieo nơi họ. Cũng vậy, những kẻ được gieo trên nơi sỏi đá là những kẻ khi nghe Lời thì liền vui vẻ đón nhận, nhưng họ không có rễ, chỉ tin nhất thời; khi gặp gian nan hay bị bắt bớ vì Lời thì vấp ngã ngay. Còn những kẻ được gieo vào bụi gai là những kẻ đã nghe Lời, nhưng những lo lắng sự đời, bả vinh hoa phú quý và những đam mê khác xâm nhập làm Lời bị chết nghẹt, nên không sinh hoa kết quả. Còn những kẻ được gieo vào đất tốt là những kẻ nghe Lời, đón nhận và sinh hoa kết quả: hạt thì được ba mươi, hạt thì được sáu mươi, hạt thì được một trăm.”
Suy niệm
Câu chuyện về vua Đavít trong bài đọc hôm nay nói lên trước hết sự rộng rãi và nhưng không của Thiên Chúa. Khi Đavít vừa nảy sinh ý định xây cho Thiên Chúa một ngôi nhà để ở – sau khi vua đã ổn định bờ cõi và làm chủ đất nước – thì qua miệng ngôn sứ Nathan, Thiên Chúa lập tức hứa sẽ cho nhà Đavít được tồn tại mãi mãi, cho vương triều của vua được vững bền, và ngay cả khi con cháu vua phạm lỗi đến mức phải sửa phạt, Thiên Chúa cũng sẽ không rút lại lòng từ bi của Ngài. Thật vậy, phía Đavít chỉ mới có một ý định tốt đẹp, thì Thiên Chúa đã đáp trả bằng một lời hứa vượt xa mọi mong đợi của con người.
Hơn nữa, không phải vì Đavít làm điều tốt trước rồi Thiên Chúa mới yêu thương sau. Trái lại, Thiên Chúa đã yêu thương Đavít từ trước đó rất lâu: chính Ngài đã “đem Đavít ra khỏi đồi cỏ, khi ông còn theo sau đoàn chiên, để đặt ông làm thủ lãnh dân Người”. Sáng kiến luôn thuộc về Thiên Chúa; ân sủng luôn đi trước mọi công trạng của con người.
Bài Tin Mừng hôm nay còn cho chúng ta thấy sự rộng rãi ấy của Thiên Chúa một cách rõ ràng và sâu sắc hơn. Theo nhiều nhà chú giải, đoạn Tin Mừng này gồm hai phần: phần thứ nhất là những lời dụ ngôn Chúa Giêsu trực tiếp giảng dạy cho đám đông, kết thúc bằng câu: “Ai có tai để nghe thì hãy nghe”; phần thứ hai là lời giải thích được thánh Máccô trình bày sau này, nhằm giúp cộng đoàn Hội Thánh hiểu và sống Lời Chúa trong hoàn cảnh cụ thể của mình.
Trong phần thứ nhất, Chúa Giêsu giới thiệu hình ảnh một người gieo giống rất khác thường. Trong khi hạt giống là thứ quý giá, thì người gieo này lại gieo cách rộng rãi, không tính toán, không phân biệt đất tốt hay đất xấu, không cần biết hạt sẽ rơi vào đâu. Qua dụ ngôn ấy, Chúa Giêsu mạc khải Thiên Chúa là Đấng vô cùng quảng đại: Ngài gieo Lời Ngài cho mọi người, không loại trừ ai, không đặt điều kiện trước, cũng không chờ xem Lời ấy có được đón nhận hay sinh hoa kết quả hay không. Thiên Chúa yêu thương con người bằng một tình yêu vô điều kiện.
Chính mầu nhiệm “Thiên Chúa yêu thương vô điều kiện” này lại tạo ra hai phản ứng trái ngược nơi con người. Một đàng, có những người như các biệt phái và luật sĩ, những kẻ luôn đề cao công nghiệp và việc tuân giữ lề luật, không thể chấp nhận một Thiên Chúa yêu thương quá rộng rãi, quá dễ dãi, không đòi hỏi con người phải có thành tích hay bảo đảm nào trước. Đối với họ, như lời Chúa Giêsu nói, “họ có nghe mà không hiểu, có nhìn mà không thấy”.
Đàng khác, lại có những người dễ rơi vào một thái độ nguy hiểm khác: nghĩ rằng nếu Thiên Chúa đã yêu thương vô điều kiện, thì chắc chắn ai cũng được cứu rỗi, nên có thể sống buông thả, thỏa hiệp, không cần cố gắng hoán cải. Chính vì thế, thánh Máccô đã cẩn thận ghi lại phần giải thích dụ ngôn của Chúa Giêsu như một lời cảnh tỉnh. Ngài muốn khẳng định rằng: đúng là Thiên Chúa yêu thương vô điều kiện và không loại trừ ai, nhưng con người phải chịu trách nhiệm về cách mình đón nhận Lời Chúa.
Có những người nghe Lời Chúa cách hời hợt, để Lời bị cướp mất ngay. Có những người đón nhận Lời với nhiệt tình ban đầu, nhưng khi gặp thử thách thì bỏ cuộc. Có những người để cho lo lắng sự đời, đam mê và quyến rũ của giàu sang bóp nghẹt Lời Chúa trong lòng mình. Chỉ khi con người biết đón nhận Lời Chúa với tâm hồn chân thành, kiên trì và quảng đại, thì Lời ấy mới sinh hoa kết quả dồi dào.
Thiên Chúa luôn rộng rãi và trung tín; còn phía chúng ta, nhiều khi lại hẹp hòi, nông cạn, hoặc để lãng phí ân sủng và tình thương của Ngài. Vì thế, điều chúng ta cần không ngừng xin Chúa là cho mình trở nên mảnh đất tốt, biết lắng nghe, suy niệm, gìn giữ và làm cho Lời Chúa sinh hoa kết quả trong đời sống hằng ngày.
Gợi ý xét mình
1. Khi Thiên Chúa quảng đại gieo Lời Ngài vào đời tôi, tôi đang đón nhận Lời ấy với thái độ nào: hời hợt, nông nổi, bị phân tâm, hay kiên trì và chân thành?
2. Trong hoàn cảnh sống cụ thể hiện nay, đâu là những “bụi gai” đang bóp nghẹt Lời Chúa trong tôi, và tôi cần làm gì để trở nên mảnh đất tốt hơn cho ân sủng của Ngài?
THỨ NĂM
2 Sm 7,18-19.24-29; Mc 4,21-25
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Máccô
Khi ấy, Đức Giêsu nói với dân chúng rằng: “Chẳng lẽ đem đèn đặt dưới cái thùng hay dưới gầm giường? Nào không phải là đặt trên đế sao? Vì không có gì che giấu mà không được tỏ lộ, không có gì kín đáo mà không được đưa ra ánh sáng. Ai có tai để nghe thì hãy nghe.”
Người còn nói với họ: “Hãy để ý đến điều anh em nghe. Anh em đong đấu nào thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em đấu ấy, và còn cho thêm nữa. Vì ai đã có thì được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi.”
Suy niệm
Vua Đavít, như bài đọc I vừa mô tả, quả thật là một con người đáng để chúng ta chiêm ngắm và khâm phục. Ông là tấm gương cho chúng ta về nhiều phương diện: trước hết, ông là con người có đức tin, biết “đặt mình trước mặt Thiên Chúa”; rồi ông biết tạ ơn, ngợi khen Thiên Chúa sau khi lãnh nhận lời hứa cho triều đại của mình được vững bền qua các thế hệ; ông biết cầu nguyện từ chính những niềm vui và ân huệ xảy đến cho bản thân; và nhất là ông biết khiêm tốn, biết nhìn nhận quyền tối thượng của Thiên Chúa trong lịch sử đời mình.
Tuy nhiên, nếu lắng nghe kỹ lời cầu nguyện mà vua Đavít thưa lên cùng Thiên Chúa, ta có thể nhận ra một giới hạn rất nhân bản nơi ông: Đavít dường như mới chỉ chăm chú nhìn vào những ân huệ Thiên Chúa ban cho mình, mới chỉ lặp đi lặp lại lời xin Thiên Chúa thực hiện điều Người đã hứa. Ông chưa diễn tả rõ ràng một khát vọng đáp đền từ phía mình, chưa nói đến việc ông sẽ sống thế nào cho xứng đáng với tình thương lớn lao mà Thiên Chúa dành cho ông và cho nhà ông.
Ở điểm này, vua Đavít chưa thể sánh được với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu chính là Đấng đã đáp đền Thiên Chúa Cha một cách trọn vẹn. Những lời trong đoạn Tin Mừng hôm nay, tuy được trình bày như những lời khuyên dành cho các môn đệ và cho mọi người lắng nghe Chúa giảng dạy, nhưng trước hết có thể được hiểu như một sự mặc khải gián tiếp về chính con người và sứ mạng của Chúa Giêsu.
Hình ảnh “đặt đèn trên giá cao” ám chỉ đến chính cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giêsu. Người là ngọn đèn được Chúa Cha thắp lên để soi sáng trần gian; không thể nào ngọn đèn ấy lại bị che khuất hay úp cho tắt đi. Dù gặp phải sự chống đối từ thân nhân, sự nghi kỵ và thù nghịch từ các đối thủ, Chúa Giêsu vẫn kiên quyết đi trọn con đường mà Chúa Cha đã vạch ra cho Người: con đường rao giảng Nước Trời, con đường hiến thân phục vụ cho đến cùng.
Chính vì sự trung tín và tận tụy ấy, Chúa Giêsu đã kiên nhẫn đào luyện các môn đệ. Điều lúc đầu còn “kín ẩn”, còn bị che khuất nơi các dụ ngôn và lời giảng, thì về sau đã được đưa ra ánh sáng, nghĩa là được công bố khắp nơi nhờ lời rao giảng của Hội Thánh. Chúa Giêsu là Đấng đã “đong đầy đấu” cho Thiên Chúa: Người đã dâng hiến trọn vẹn con người mình, thời giờ, sức lực, và cuối cùng là chính mạng sống mình cho Nước Trời. Bởi đó, Người đã được Chúa Cha tôn vinh, cho sống lại từ cõi chết, và tuôn đổ muôn vàn ân sủng, đúng như lời Tin Mừng: “Ai đã có thì còn được cho thêm.”
Như thế, đoạn Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giêsu không chỉ là Đấng biết ơn Thiên Chúa vì sứ mạng được trao phó, mà còn là Đấng đáp đền Thiên Chúa một cách trọn vẹn bằng cả cuộc đời hiến thân cho Tin Mừng Nước Trời. Ở điểm này, Chúa Giêsu vượt xa vua Đavít và vượt xa mọi giới hạn của con người.
Chính vì thế, Chúa Giêsu mời gọi những ai theo Người bước vào cùng một tâm tình ấy: mở lòng ra cho Thiên Chúa, biết ơn Ngài bằng cách lắng nghe Lời Ngài một cách chăm chú, nghe thật nhiều, nghe thật kỹ, và nhất là quảng đại truyền bá Lời đã nghe. Thật vậy, con người chỉ thực sự lắng nghe Lời Thiên Chúa khi họ để cho Lời ấy được lan tỏa qua chính đời sống và chứng tá của mình.
Những lời của Chúa Giêsu hôm nay cũng là lời mời gọi trực tiếp dành cho mỗi chúng ta:
Hãy ý thức rằng Thiên Chúa đang yêu thương chúng ta.
Hãy chuyên cần lắng nghe Lời Chúa, để cho vị Thiên Chúa “kín ẩn” nắm bắt và biến đổi chúng ta.
Hãy khám phá những “mầu nhiệm” của Người, để rồi trở nên tôi tớ trung tín, giúp nhiều người khác cũng nhận ra và gặp gỡ Thiên Chúa ấy.
Chúa Giêsu hiện diện trong mầu nhiệm bàn thờ là Đấng đã sống và chết cho sứ mạng, đã quảng đại cho đi đến cùng, cho đi cả mạng sống mình. Xin Chúa Giêsu dẫn dắt chúng ta ngày càng tiến sâu hơn trên con đường và lối sống của Người, để chúng ta trở nên những người con biết ơn và đáp đền tình thương của Thiên Chúa một cách xứng đáng.
Gợi ý xét mình
1. Tôi đang đáp lại tình thương và ân huệ Thiên Chúa dành cho tôi bằng thái độ nào: chỉ dừng lại ở lời tạ ơn, hay bằng một đời sống quảng đại hiến dâng như Chúa Giêsu?
2. Ngọn “đèn đức tin” nơi tôi hiện nay đang được đặt trên giá cao để soi sáng cho người khác, hay đang bị che khuất bởi sợ hãi, tiện nghi và thỏa hiệp?
THỨ SÁU
2 Sm 11,1-4a.5-10a.13-17; Mc 4,26-34
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Máccô
Khi ấy, Đức Giêsu nói rằng: “Nước Thiên Chúa cũng giống như chuyện một người gieo hạt xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức thì hạt giống vẫn nảy mầm và mọc lên, bằng cách nào thì người ấy không biết. Đất tự động sinh hoa kết quả: trước hết là cây lúa, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng là hạt lúa đầy bông. Khi lúa chín, người ấy liền đem liềm ra gặt, vì đã đến mùa.”
Người lại nói: “Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây? Hay dùng dụ ngôn nào mà diễn tả? Nước Thiên Chúa giống như hạt cải: khi gieo xuống đất, thì nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên và trở thành cây lớn nhất trong các cây rau, cành lá sum sê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng mát của nó.”
Bằng nhiều dụ ngôn như thế, Người giảng Lời cho họ, tùy theo mức họ có thể nghe. Người không nói với họ điều gì mà không dùng dụ ngôn; nhưng khi chỉ có các môn đệ với Người, thì Người giải nghĩa hết.
Suy niệm
Trong hai dụ ngôn về Nước Trời mà chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu tỏ ra thật lạc quan và đầy tin tưởng. Người như nắm chắc được tương lai tốt đẹp của Nước ấy. Theo dòng thời gian, Nước Trời sẽ tự nhiên lớn mạnh, giống như hạt giống được gieo xuống đất, âm thầm nảy mầm và lớn lên, hay như hạt cải ban đầu rất nhỏ bé nhưng dần dần trở thành cây lớn.
Sở dĩ Chúa Giêsu có thể lạc quan như thế là vì Nước Trời trước hết là công trình của Thiên Chúa, thuộc về quyền năng và tình thương của Ngài. Nói đến quyền năng Thiên Chúa là nói đến một sức mạnh mà không thế lực, ảnh hưởng hay gian khó nào có thể cản trở được. Thiên Chúa muốn thiết lập Nước Trời để đem sự hiện diện của trời cao vào giữa lòng cuộc sống nhân loại, để tuôn đổ ơn cứu độ và đổi mới số phận con người, thì chắc chắn ý định ấy sẽ được hoàn tất.
Còn nói đến tình thương của Thiên Chúa là nói đến khả năng vượt thắng mọi yếu hèn và sai lỗi của con người. Những giới hạn, tội lỗi và phản bội của con người không đủ để làm cho Nước Trời bị triệt tiêu. Trái lại, Thiên Chúa có thể và thường vẫn kéo ra sự lành ngay từ chính tội lỗi của con người, để giữa dòng lịch sử đầy bóng tối, Nước Trời vẫn tiếp tục xuất hiện và lớn mạnh.
Nhìn lại lịch sử cứu độ, chúng ta thấy Chúa Giêsu thật có lý khi lạc quan. Thực tế cho thấy, Nước Trời đã lớn mạnh đáng kể giữa trần gian qua sự hiện diện của Hội Thánh, như “một thứ cây lớn để chim trời từ muôn phương đến nương náu”. Nước Trời lớn lên qua số đông các Kitô hữu và qua tác động âm thầm nhưng thực sự của ân sủng nơi đời sống các tín hữu. Đời sống của nhiều người đã được biến đổi; nhiều giá trị Tin Mừng đã thấm vào đời sống xã hội. Không ít người ngoài Công Giáo sẵn sàng quý mến và tin tưởng người Kitô hữu vì nhận ra nơi họ những nét sống tốt lành. Quả thật, Nước Trời khởi đi từ nhỏ bé nhưng nay đã lan rộng và hiện diện trong nhiều môi trường của đời sống nhân loại.
Tuy nhiên, mặt khác, khi nhìn sát vào thực tế đời sống con người, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng Nước Trời chưa phải lúc nào cũng lớn mạnh đúng mức, và sự phát triển của Nước Trời không bao giờ là điều dễ dàng. Không phải lúc nào Nước Trời nơi con người cũng lớn lên cách tự nhiên như hạt giống trong đất. Nhiều khi, để Nước Trời lớn mạnh, Thiên Chúa phải kiên nhẫn tác động, và con người phải liên lỉ cộng tác bằng nỗ lực và tỉnh thức.
Thật vậy, nơi mỗi người chúng ta, bên cạnh mầm mống của Nước Trời vẫn luôn tồn tại những mầm mống của tội lỗi. Chúng ta được ban cho tự do cao quý, nhưng đó là thứ tự do có thể bị lạm dụng, có thể dẫn đến sa ngã nếu không được hướng dẫn và kiểm soát đúng đắn. Trường hợp vua Đavít trong bài đọc I hôm nay là một minh chứng rõ ràng. Từ một con người gương mẫu về lòng đạo đức, tinh thần cầu nguyện và sự khiêm tốn, Đavít đã bất ngờ đầu hàng trước những đam mê xấu, phạm cùng lúc tội ngoại tình và tội bất công nghiêm trọng với người khác. Tệ hơn nữa, ông còn tìm cách che giấu tội lỗi bằng sự giả hình và cuối cùng là nhẫn tâm giết chết một người vô tội.
Đavít là một con người thấp hèn được Thiên Chúa thương cất nhắc lên địa vị cao cả, nhưng ông cũng đã phạm một thứ tội nặng nề và điển hình. Câu chuyện ấy cho thấy: Nước Trời nơi con người không tự động lớn lên mà không cần cảnh giác; nó luôn phải được bảo vệ, vun trồng trong cuộc chiến không ngừng với ma quỷ, với đam mê xác thịt và với sự yếu đuối của chính lòng người.
Nước Trời nơi mỗi chúng ta hôm nay vẫn đang lớn lên, nhưng trong sự giằng co và thử thách. Điều đáng mừng là Thiên Chúa vẫn tin tưởng con người và vẫn kiên trì gieo đặt Nước Trời nơi chúng ta. Xin Chúa Giêsu Thánh Thể, chính là hiện thân sống động của Nước Trời giữa trần gian, trợ giúp chúng ta mỗi ngày biết đóng góp phần nhỏ bé của mình, để Nước Trời dần dần được hình thành nơi đời sống cá nhân chúng ta, và từ đó lan tỏa ra xã hội mà chúng ta đang sống.
Gợi ý xét mình
1. Tôi có thực sự tin tưởng rằng Nước Trời là công trình của Thiên Chúa và đang âm thầm lớn lên trong đời tôi, ngay cả khi tôi chưa thấy kết quả rõ ràng không?
2. Những mầm mống tội lỗi, đam mê hay thói quen xấu nào đang cản trở sự phát triển của Nước Trời nơi tôi, và tôi cần cộng tác với ơn Chúa thế nào để vượt thắng chúng?
THỨ BẢY
2Sm 12,1-7a.10-17; Mc 4,35-40
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marcô
Chiều hôm ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Chúng ta sang bờ bên kia.” Bỏ đám đông lại, các ông đưa Người xuống thuyền, vì Người đang ở sẵn trên thuyền; có những thuyền khác cùng đi theo. Một cơn bão lớn nổi lên, sóng ập vào thuyền đến nỗi thuyền đầy nước. Trong khi đó, Đức Giêsu đang ở đàng lái, dựa gối mà ngủ. Các môn đệ đánh thức Người và thưa: “Thầy ơi, chúng ta chết mất, Thầy không lo sao?” Người thức dậy, ngăm đe gió và truyền cho biển: “Im đi! Câm đi!” Gió liền tắt, và biển lặng như tờ. Người nói với các ông: “Sao nhát thế? Anh em chưa có lòng tin sao?” Các ông hoảng sợ và nói với nhau: “Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?”
Suy niệm
Theo các nhà nghiên cứu Thánh Kinh, đoạn Tin Mừng theo thánh Marcô mà chúng ta nghe hôm nay không đơn sơ như chúng ta tưởng, nhưng chứa đựng rất nhiều hình ảnh và chi tiết mang ý nghĩa tượng trưng sâu xa. Đoạn này nằm trong phần Tin Mừng mà thánh Marcô muốn trả lời cho thắc mắc của con người về căn tính và tư cách của Chúa Giêsu. Qua trình thuật này, thánh Marcô dường như muốn giới thiệu trước Chúa Giêsu như là Đấng chiến thắng ma quỷ nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh của Ngài.
Trước hết, chúng ta gặp hình ảnh “biển”, một hình ảnh mà người Do Thái thường dùng để chỉ “chỗ hỗn mang, nơi phát sinh những sức mạnh đối nghịch với Thiên Chúa và đe dọa con người”. Theo Thánh Kinh, trong viễn tượng cánh chung, biển cùng với sự chết và hỏa ngục sẽ biến mất để cuộc tạo dựng mới của Thiên Chúa được khai mở. Vì thế, việc Chúa Giêsu đối diện với biển động mang một ý nghĩa vượt xa một biến cố thiên nhiên thông thường.
Đoạn Tin Mừng này cũng có nhiều điểm gợi nhớ đến câu chuyện ngôn sứ Giôna vượt biển ngày xưa, khiến người ta liên tưởng đến cuộc chiến mà Chúa Giêsu sẽ phải đương đầu với quyền lực của sự chết, và cơn bão dữ đe dọa Ngài chính là cuộc tử nạn sắp đến. Chi tiết “Chúa Giêsu nằm ngủ” gợi lên hình ảnh sự vắng bóng của Ngài, thậm chí báo trước mầu nhiệm sự chết. Chi tiết “Ngài chỗi dậy” lại gợi đến biến cố phục sinh. Và lời Chúa Giêsu quát biển, truyền cho nó im lặng, hoàn toàn giống với những lời Ngài vẫn sử dụng khi trừ quỷ, diễn tả quyền năng chiến thắng của Chúa Giêsu trên các thế lực ma quỷ sau khi Ngài phục sinh.
Tóm lại, chủ đích của thánh Marcô qua đoạn Tin Mừng này là giới thiệu Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng đã chiến thắng ma quỷ để khởi đầu cuộc tạo dựng mới của Thiên Chúa. Giờ đây, Chúa Giêsu là Chúa của vũ trụ, đang cùng các tông đồ, tức Hội Thánh của Ngài, vượt sang bờ biển bên kia, nghĩa là miền đất của lương dân, để mang ơn cứu độ đến cho muôn dân nước.
Dĩ nhiên, đằng sau đoạn Tin Mừng giàu ý nghĩa tượng trưng đó, chúng ta còn gặp một sự thật đầy niềm vui: Chúa Giêsu đã thực sự cứu độ chúng ta. Nhờ chiến thắng của cuộc khổ nạn và phục sinh, Chúa Giêsu đã trở thành Chúa thống trị trên muôn loài muôn vật. Quyền Chúa của Ngài được thi thố trên nhiều bình diện: trên các thiên thần, trên ma quỷ, trên vũ trụ vạn vật và trên chính con người. Nhưng chắc chắn, đối với Chúa Giêsu, không có chiến thắng nào đem lại niềm vui lớn hơn chiến thắng nơi lòng con người.
Việc Chúa Giêsu khuất phục được bão tố của biển khơi không làm Ngài vui bằng khi Ngài khuất phục được “biển động” trong tâm hồn con người. Chỉ một cử chỉ ngoan ngoãn mở lòng trước lời Chúa và ân sủng của Ngài, chỉ một quyết tâm chân thành sửa đổi đời sống, cũng đủ làm cho Chúa Giêsu vui mừng hơn cả trăm ngàn chiến công trong những lãnh vực khác. Chính vì thế, tâm tình hối lỗi chân thành của vua Đavít, sau khi ông phạm tội ngoại tình và giết người như bài đọc I vừa thuật lại, đã trở thành nguồn vui cho Thiên Chúa. Qua tâm tình của vua Đavít và của biết bao con người trong dòng lịch sử, Thiên Chúa và Chúa Giêsu vui mừng vì thấy tình thương và ân sủng của mình không hề ra vô ích nơi nhân loại.
Ngày nay, Chúa vẫn còn phải tiếp tục khuất phục nhiều cơn bão khác. “Bão táp và biển động” không chỉ còn nơi những người ở bờ bên kia, tức những người chưa biết Chúa, mà còn hiện diện ngay nơi chính chúng ta, những người đã ở trong Hội Thánh.
Xin Chúa Giêsu Thánh Thể mở rộng lòng mỗi người, để Chúa được thực sự ngự trị với quyền Chúa của Ngài. Và phần chúng ta, ước gì chúng ta ngày càng nên giống Mẹ Maria, trở nên chiến thắng cho Chúa qua việc đón nhận Chúa, gắn bó với Chúa, sống cho Chúa và can đảm chết đi cho mọi đam mê thế tục nơi chính mình.
Gợi ý xét mình
1. Trong đời sống hiện tại của tôi, “biển động” nào đang làm tôi hoảng sợ và khiến tôi nghi ngờ sự hiện diện của Chúa Giêsu trong con thuyền đời mình?
2. Trước lời chất vấn của Chúa: “Sao nhát thế? Anh em chưa có lòng tin sao?”, tôi được mời gọi thay đổi điều gì để thực sự để Chúa làm chủ “biển lòng” của tôi?
