Thước đo của tình yêu là yêu không đo lường



Chúa nhật 25 thường niên, năm A

Mỗi khi nghe dụ ngôn này, có lẽ một phần trong chúng ta cảm thấy đồng cảm với những người thợ được thuê từ sáng sớm, những người đã phàn nàn với chủ vườn về tiền công của mình. Hoàn cảnh của họ dường như có điều gì đó không công bằng. Đoạn Tin Mừng đặt chúng ta trước một thách đố khiến ta dễ nhớ lại lời ngôn sứ Isaia, khi Thiên Chúa phán: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta.” Nhưng trước khi tìm hiểu ý nghĩa của dụ ngôn, chúng ta cần nói đôi lời về điều mà dụ ngôn không muốn nói.

Dụ ngôn này không nhằm đưa ra một khuôn mẫu về mối quan hệ lao động hay tiền lương công bằng. Cách trả công được mô tả trong đoạn Tin Mừng chắc chắn không thể được xem như một mô hình kinh tế để áp dụng trong kinh doanh. Đúng hơn, hình ảnh người chủ vườn trong Tin Mừng cho thấy ông không đơn thuần chỉ là một chủ đất, ông là hình ảnh nói lên cách thức Thiên Chúa Cha yêu thương chúng ta.

Ở đây, dụ ngôn có thể được hiểu như một hình ảnh về lịch sử cứu độ. Nhà Israel thường được ví như vườn nho của Thiên Chúa. Chính Người đã trồng và chăm sóc vườn nho ấy, chuẩn bị cho dân Israel sinh hoa trái công chính (x. Is 5,7; 27,2–5). Thế nhưng, thật đáng tiếc, Israel đã không sinh những hoa trái tốt lành, và Chúa đã để cho vườn nho của Người, tức vương quốc Israel, bị các dân chinh phục tàn phá (x. Tv 80,9–20). Tuy nhiên, Thiên Chúa hứa rằng một ngày kia Người sẽ trồng lại vườn nho của mình, và những chồi non của nó sẽ vươn tới tận cùng trái đất (x. Am 9,15; Hs 14,5–10).

Người chủ vườn chính là Thiên Chúa. Vườn nho là Nước Thiên Chúa. Những người thợ được thuê từ sáng sớm là dân Israel, những người đầu tiên được Thiên Chúa ban giao ước. Những người được thuê vào những giờ sau đó là các dân ngoại, tức những người không thuộc Israel, những người mà cho đến khi Đức Kitô ngự đến vẫn còn xa lạ với các giao ước chứa đựng lời hứa (x. Ep 2,11–13).

Trong lòng quảng đại vô biên của Thiên Chúa, cùng một tiền công, cùng những phúc lành đã được hứa ban cho những người được gọi trước, tức dân Israel, cũng sẽ được trao ban cho những người được gọi sau cùng, tức các dân tộc còn lại.

Cũng như các dân ngoại, nhiều người sẽ được bước vào Nước Thiên Chúa vào giờ muộn màng, sau khi đã dành phần lớn cuộc đời mình trong sự nhàn rỗi của tội lỗi. Nhưng ngay cả những người ấy vẫn có thể kêu cầu Người và nhận ra Người đang ở gần, như chúng ta hát trong Thánh vịnh hôm nay : “Chúa ở gần mọi kẻ kêu cầu Người” (Tv 144)

Chúng ta phải vui mừng vì Thiên Chúa thương xót tất cả những ai Người đã dựng nên. Điều này cũng phải trở thành nguồn an ủi cho chúng ta, đặc biệt khi chúng ta có những người thân yêu vẫn còn ở xa vườn nho của Chúa. Phần chúng ta là tiếp tục làm việc trong vườn nho của Người. Như thánh Phaolô nói trong bài đọc hôm nay, chúng ta hãy sống sao cho xứng đáng, nỗ lực đưa mọi người đến chỗ ngợi khen Danh Người.

Ở bình diện cá nhân hơn, đây cũng là câu chuyện về những người hoán cải muộn màng và những người đã sống trong gia đình đức tin suốt cả cuộc đời. Khía cạnh này gợi lại Dụ ngôn Người Con Hoang Đàng. Hãy nhớ lại sự bất bình của người con cả khi người em hoang đàng trở về. Thái độ càm ràm của người anh cả và sự phàn nàn của những người thợ được thuê từ sáng sớm thực ra rất giống nhau. Điều này có thể khiến chúng ta đặt câu hỏi: Tại sao phải cố gắng sống thánh thiện ngay trong cuộc đời này, nếu những người “hoán cải vào giờ chót” vẫn có thể bước vào vinh quang thiên quốc?

Có ít nhất hai lý do.

Thứ nhất, ở lại trong vườn nho của Chúa Cha bao giờ cũng tốt hơn. Chúng ta thường nghĩ rằng người làm từ sáng sớm đã chịu thiệt vì phải vất vả lâu hơn. Nhưng dưới ánh sáng đức tin, được ở trong vườn nho của Chúa lâu hơn không phải là một thiệt thòi, mà chính là một ân huệ. Đức Bênêđictô XVI đã diễn tả điều này thật đẹp khi suy niệm chính dụ ngôn này: “Được gọi đã là phần thưởng đầu tiên: được làm việc trong vườn nho của Chúa, được phục vụ Người, được cộng tác vào công trình của Người, tự nó đã là một phần thưởng vô giá” (Bênêđictô XVI, Kinh Truyền Tin ngày 21/9/2008)

Vì thế, người biết Chúa từ thuở nhỏ, người đã sống trong đức tin suốt cả cuộc đời, người đã phục vụ Chúa từ những năm tháng đầu đời không nên nhìn người trở về vào giờ cuối cùng với ánh mắt ganh tị. Được ở với Chúa lâu hơn, được biết Người, yêu mến Người và phục vụ Người lâu hơn, tự nó đã là một hồng ân. Trái lại, rời xa vườn nho là một cuộc phiêu lưu đầy nguy hiểm. Chúng ta không biết liệu mình còn có thời gian, còn cơ hội, hay còn nhận được ân sủng để quay trở về hay không. Tự phụ rằng mình chắc chắn sẽ được cứu độ có thể là một trong những căn bệnh thiêng liêng nguy hiểm nhất, và đó là điều chúng ta phải tránh.

Chính ở điểm này, lời cảnh tỉnh của thánh Augustinô thật đáng suy nghĩ: “Tại sao bạn lại trì hoãn đáp lại Đấng đang gọi bạn, khi bạn chắc chắn về phần thưởng nhưng lại không chắc chắn về ngày giờ?”

Quả thật, người thợ giờ thứ mười một vẫn được ông chủ gọi vào vườn nho, nhưng không ai trong chúng ta biết “giờ thứ mười một” của đời mình sẽ đến lúc nào. Vì thế, lòng thương xót của Thiên Chúa không bao giờ có thể trở thành lý do để chúng ta trì hoãn sự hoán cải. Trái lại, chính vì Người đang gọi, chúng ta càng phải mau mắn đáp lại ngay hôm nay.

Thứ hai, thánh Tôma Aquinô nhắc nhở chúng ta rằng mức độ chúng ta hưởng hạnh phúc thiên quốc sẽ tương ứng với mức độ thánh thiện của đời sống chúng ta trên trần gian. Nói cách khác, có lý do chính đáng để chúng ta tìm kiếm sự thánh thiện ngay từ bây giờ, thay vì trì hoãn. Điều ấy sẽ có những hệ quả trong đời đời.

Nhưng cuối cùng, có lẽ điều sâu xa nhất mà dụ ngôn muốn thay đổi nơi chúng ta không phải là cách chúng ta tính toán tiền công, mà là cách chúng ta nhìn Thiên Chúa. Những người thợ đến từ sáng sớm nhìn ông chủ và bắt đầu tính toán: Tôi đã làm bao nhiêu giờ? Người kia làm bao nhiêu giờ? Tôi phải được bao nhiêu? Tại sao người kia lại được bằng tôi? Và một khi bắt đầu so sánh, niềm vui được làm việc trong vườn nho biến thành sự bất mãn. Đó cũng có thể là cám dỗ trong đời sống đức tin của chúng ta. Có khi chúng ta nghĩ: Tôi đã theo Chúa bao nhiêu năm; tôi đã hy sinh bao nhiêu; tôi đã phục vụ Giáo hội bao nhiêu; tại sao người khác lại được nhiều như thế?

Nhưng ân sủng của Thiên Chúa không vận hành theo phép tính hơn – thua của con người. Người không mắc nợ chúng ta. Tất cả đều là ân sủng. Người gọi kẻ này từ sáng sớm. Người gọi người khác vào giữa trưa. Người lại gọi một người khác khi ngày đã gần tàn. Điều quan trọng không phải là chúng ta đến trước hay đến sau, nhưng là khi nghe tiếng Người gọi, chúng ta có bước vào vườn nho hay không. Và khi chúng ta được thúc đẩy bởi tình yêu, lao động trong vườn nho của Chúa sẽ trở thành một niềm vui, ngay cả khi công việc ấy đầy khó khăn.

Vì thế, thay vì hỏi: “Tại sao người kia được bằng tôi?”, có lẽ người môn đệ của Đức Kitô nên học cách hỏi một câu khác: “Tại sao Chúa lại quảng đại với tôi đến thế, khi Người đã gọi tôi vào vườn nho của Người?”

Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban ơn để biết vui mừng vì lòng quảng đại của Người dành cho người khác, biết mau mắn đáp lại mỗi khi Người gọi, và nhất là biết trân trọng đặc ân lớn lao mà chúng ta đã được lãnh nhận: được sống, được làm việc và được yêu thương trong vườn nho của một Người Chủ quảng đại dường ấy.

Mới hơn Cũ hơn