SUY NIỆM LỜI CHÚA - TUẦN IV THƯỜNG NIÊN - NĂM CHẴN
THỨ HAI
2Sm 15,13-14;16,5-13; Mc 5,1-20
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marcô
Khi ấy, Đức Giêsu và các môn đệ đến bờ bên kia biển hồ, vào miền Ghêrasa. Vừa ra khỏi thuyền, Người liền gặp một người từ trong đám mồ mả đi ra, bị thần ô uế ám. Anh ta thường sống nơi mồ mả; không ai có thể trói buộc anh ta, dù bằng xiềng xích. Nhiều lần người ta đã dùng xiềng xích và gông cùm trói anh ta, nhưng anh ta giật đứt xiềng xích, bẻ gãy gông cùm, và không ai đủ sức chế ngự anh ta. Suốt ngày đêm, anh ta cứ ở trong đám mồ mả và trên núi, tru tréo và lấy đá đập vào mình.
Thấy Đức Giêsu từ đàng xa, anh ta chạy lại bái lạy Người và kêu lớn tiếng: “Lạy Đức Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, chuyện tôi can gì đến ông? Nhân danh Thiên Chúa, xin ông đừng hành hạ tôi!” Vì Đức Giêsu đã bảo: “Thần ô uế kia, hãy xuất khỏi người này!” Người hỏi: “Tên ngươi là gì?” Nó thưa: “Tên tôi là đạo binh, vì chúng tôi đông lắm.”
Sau đó, Đức Giêsu cho phép chúng nhập vào đàn heo. Cả đàn chừng hai ngàn con liền lao xuống biển mà chết đuối. Người đã được khỏi, ngồi đó, mặc quần áo, và trí khôn đã trở lại bình thường.
Nhưng dân trong vùng xin Đức Giêsu rời khỏi lãnh thổ của họ. Khi Người xuống thuyền, kẻ trước kia bị quỷ ám xin được ở với Người. Nhưng Đức Giêsu không cho, mà bảo: “Anh hãy về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh thế nào.” Anh ta ra đi và bắt đầu rao giảng trong vùng Thập Tỉnh những gì Đức Giêsu đã làm cho anh, khiến ai nấy đều kinh ngạc.
Suy niệm
Con người văn minh ngày nay dường như không còn mấy ai tin vào những chuyện ma quỷ, quỷ ám hay sự dữ mang tính thiêng liêng. Nhiều người cho rằng những câu chuyện ấy chỉ là sản phẩm của sự thiếu hiểu biết, của một thời đại mà ánh sáng khoa học chưa đủ mạnh để soi chiếu các hiện tượng bất thường. Người ta giải thích mọi sự bằng tâm lý, sinh học, hoặc các rối loạn thần kinh, và cho rằng khi khoa học tiến bộ đủ, tất cả sẽ được giải mã.
Thế nhưng, bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một khẳng định rõ ràng từ chính Đức Giêsu: ma quỷ là có thật, và chúng đang hoành hành trong thế giới con người. Qua việc chữa lành một người bị cả một “đạo binh” quỷ ám, Đức Giêsu không chỉ bày tỏ quyền năng của Người, mà còn mặc khải một thực tại thiêng liêng sâu xa: cuộc chiến giữa ánh sáng và bóng tối, giữa sự sống và sự dữ, vẫn đang diễn ra trong lịch sử nhân loại.
Thánh Marcô mô tả tình trạng của người bị quỷ ám bằng những hình ảnh thật ghê rợn và đáng thương: anh sống giữa mồ mả, quần áo rách rưới, thân thể bẩn thỉu; anh tru tréo như thú hoang, lấy đá tự rạch mình đến chảy máu; không xiềng xích, gông cùm nào có thể chế ngự được anh. Dưới sự thống trị của thần ô uế, anh không chỉ mất tự do mà còn bị tước đoạt phẩm giá làm người. Anh bị xã hội khinh khi, sợ hãi và ruồng bỏ.
Hình ảnh ấy không chỉ nói về một con người của quá khứ. Đó còn là hình ảnh biểu tượng của biết bao con người hôm nay đang sống dưới quyền lực của sự dữ. Họ có thể không sống trong mồ mả theo nghĩa thể lý, nhưng lại đang sống trong “mồ mả” của tội lỗi, của nghiện ngập, của bạo lực, của hận thù, của sự chối bỏ Thiên Chúa. Có những người chạy theo bùa ngải, tà thuật; có những người sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu; và cũng có cả những cộng đoàn, những dân tộc chưa được đón nhận ánh sáng Tin Mừng.
Đức Giêsu nhìn thấy tận căn nỗi khốn khổ của con người ấy: khốn khổ về thể xác và khốn nạn về linh hồn. Người không tránh né, không sợ hãi, cũng không lên án. Người đến gần, đối diện với sự dữ và dùng quyền năng thần linh để giải thoát con người. Chỉ bằng một lời, Người trục xuất cả một đạo binh quỷ dữ, trả lại cho anh sự tự do, sự tỉnh táo và phẩm giá làm người. Hình ảnh anh “ngồi đó, mặc quần áo, và trí khôn đã trở lại bình thường” là dấu chỉ của một con người được phục hồi trọn vẹn.
Không dừng lại ở đó, việc Đức Giêsu vượt biển đến miền Ghêrasa còn cho thấy ý hướng loan báo Tin Mừng cho dân ngoại. Người chủ động bước vào một vùng đất xa lạ, nơi bị coi là ô uế, để đem ánh sáng và lòng thương xót của Thiên Chúa đến cho những người bị bỏ rơi bên lề xã hội. Qua hành động ấy, Đức Giêsu mạc khải một Thiên Chúa không loại trừ ai, không đóng khung tình yêu của mình trong biên giới tôn giáo hay văn hóa.
Thế nhưng, trớ trêu thay, dân chúng miền Ghêrasa đã không nhận ra ân huệ lớn lao ấy. Họ xin Đức Giêsu rời khỏi vùng đất của họ. Đối với họ, phép lạ chữa lành không quan trọng bằng thiệt hại vật chất: đàn heo chừng hai ngàn con đã chết. Lợi ích kinh tế đã che mờ con mắt đức tin, khiến họ không nhận ra Đấng đang đứng giữa họ là chính Thiên Chúa viếng thăm dân Người.
Người được chữa lành thì lại có một thái độ hoàn toàn khác. Anh xin được theo Đức Giêsu làm môn đệ. Nhưng Đức Giêsu không cho anh đi theo, mà sai anh trở về với gia đình và quê hương để làm chứng: “Hãy thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh thế nào.” Từ một kẻ bị xã hội ruồng bỏ, anh trở thành nhà truyền giáo đầu tiên cho vùng Thập Tỉnh, khiến ai nghe cũng phải sửng sốt.
Qua đó, Tin Mừng nhắc nhở chúng ta: người rao giảng Tin Mừng trước hết phải là chứng nhân. Người ta chỉ có thể nói về Thiên Chúa một cách thuyết phục khi chính họ đã được Thiên Chúa chạm đến, chữa lành và biến đổi. Loan báo Tin Mừng không chỉ là truyền đạt giáo lý, mà là làm chứng cho những gì Thiên Chúa đã làm trong chính cuộc đời mình.
Trong mầu nhiệm Thánh Thể, Chúa Cha đã cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết và đặt Người làm Chúa muôn loài. Mình và Máu Thánh Đức Kitô được trao ban cho chúng ta hôm nay cũng mang cùng một quyền năng chữa lành và giải thoát: chữa lành những vết thương tâm hồn, xua trừ quyền lực của tội lỗi và sự dữ, phục hồi nơi chúng ta phẩm giá làm con Thiên Chúa. Đón nhận hồng ân ấy, chúng ta được mời gọi không chỉ tạ ơn, mà còn lên đường loan báo tình thương Chúa bằng chính đời sống được biến đổi của mình.
Câu hỏi xét mình
Trong đời sống đức tin của tôi, có những “mồ mả” hay xiềng xích nào của tội lỗi, sợ hãi hoặc thói quen xấu đang trói buộc tôi và cần được Chúa Giêsu giải thoát không?
Tôi có sẵn sàng đặt tình thương và ân huệ của Thiên Chúa lên trên những lợi ích vật chất, để can đảm làm chứng cho Chúa giữa gia đình và xã hội hôm nay không?
----------------
THỨ BA
2Sm 18,9-30;19,4; Mc 5,21-43
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marcô
Khi ấy, Đức Giêsu lại qua bờ bên kia biển hồ. Có một đám rất đông tụ họp quanh Người. Bấy giờ, một người trưởng hội đường tên là Giairô đến, vừa thấy Đức Giêsu liền sấp mình dưới chân Người và khẩn khoản nài xin: “Con bé nhà tôi gần chết, xin Thầy đến đặt tay trên cháu để nó được cứu sống.”
Người đi với ông. Có một người đàn bà bị băng huyết đã mười hai năm. Bà đã chịu nhiều đau khổ vì chạy chữa nơi nhiều thầy thuốc, đã tốn hết tiền của mà không khá hơn, trái lại bệnh càng nặng thêm. Nghe đồn về Đức Giêsu, bà lách qua đám đông phía sau và chạm vào áo Người, vì bà tự nhủ: “Tôi mà sờ được vào áo Người thôi là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại và bà cảm thấy mình đã được khỏi bệnh.
Đức Giêsu biết có một năng lực tự nơi mình phát ra, liền quay lại hỏi: “Ai đã sờ vào áo tôi?” Người đàn bà run sợ, biết mình đã được chữa lành, liền đến sấp mình trước mặt Người và nói hết sự thật. Người bảo bà: “Này con, đức tin của con đã cứu chữa con; con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”
Trong khi Người còn đang nói, có kẻ từ nhà ông trưởng hội đường đến báo tin: “Con gái ông chết rồi, còn làm phiền Thầy làm gì nữa?” Nhưng Đức Giêsu nghe được lời ấy liền nói với ông Giairô: “Đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”
Đến nhà ông trưởng hội đường, Người cầm lấy tay đứa bé và nói: “Talitha kum!”, nghĩa là: “Này bé, Thầy truyền cho con: hãy trỗi dậy!” Lập tức đứa bé đứng dậy và đi lại được. Mọi người đều kinh ngạc.
Suy niệm
Trong các sách Tin Mừng, chúng ta gặp rất nhiều phép lạ chữa bệnh được các thánh sử ghi lại. Những phép lạ ấy không chỉ nhằm tỏ bày quyền năng của Thiên Chúa, mà còn mạc khải một cách sâu xa lòng thương xót của Người đối với thân phận con người đau khổ. Điều Đức Giêsu quan tâm không phải là phép lạ tự nó, nhưng là con người, là những con người bệnh hoạn, yếu đuối, đang cần được cứu chữa.
Đức Giêsu đến để con người “được sống và sống dồi dào” (x. Ga 10,10). Sự sống ấy không chỉ là sức khỏe thể lý, mà là sự sống đích thực, sự tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa. Vì thế, khi chữa lành, Đức Giêsu luôn đòi hỏi một điều cốt yếu: đức tin. Tin vào Thiên Chúa, con người không chỉ được chữa lành bệnh tật hồn xác, mà còn được bước vào một đời sống mới.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Marcô thuật lại hai phép lạ đan xen: người phụ nữ loạn huyết được chữa lành và con gái ông Giairô được cho sống lại. Trong cả hai trường hợp, Đức Giêsu đều nhấn mạnh đến đức tin: “Đức tin của con đã cứu chữa con.”
Đức tin của người phụ nữ loạn huyết được diễn tả một cách đơn sơ, âm thầm nhưng mạnh mẽ. Bà không dám lên tiếng, không dám xin xỏ, chỉ âm thầm chen lấn trong đám đông với một niềm xác tín rất đơn giản: chỉ cần chạm vào áo Người thôi, tôi sẽ được lành. Đức tin ấy không dựa trên lý luận, mà phát xuất từ một con tim tuyệt vọng nhưng hoàn toàn tín thác.
Đức Giêsu đã cảm nhận được năng lực cứu độ phát xuất từ Người và Người dừng lại. Người muốn người phụ nữ ấy bước ra ánh sáng, không phải để làm bà xấu hổ, nhưng để trả lại cho bà phẩm giá của một con người. Từ bao năm nay, bà bị coi là ô uế, bị loại trừ khỏi cộng đoàn. Hôm nay, trước mặt mọi người, Đức Giêsu gọi bà là “con” và công khai khẳng định: bà được cứu không phải do phép thuật, mà do đức tin. Như thế, bà được chữa lành không chỉ về thân xác, mà còn được chữa lành trong mối tương quan với Thiên Chúa và cộng đoàn.
Tiếp theo là câu chuyện của ông Giairô. Tình yêu của một người cha dành cho đứa con đang hấp hối đã khiến ông vượt qua mọi rào cản, mọi sĩ diện xã hội, để sấp mình dưới chân Đức Giêsu. Đó là một thái độ khiêm tốn tuyệt đối và tin tưởng trọn vẹn. Khi nghe tin con đã chết, mọi hy vọng theo lẽ tự nhiên đều chấm dứt. Thế nhưng, Đức Giêsu nói với ông một lời ngắn gọn mà đầy quyền năng: “Đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”
Chỉ bằng một lời dịu dàng: “Talitha kum”, Đức Giêsu kéo đứa bé ra khỏi quyền lực của sự chết. Quyền năng ấy cho thấy Người là Chúa của sự sống, Đấng mà đối với Người, không có gì là không thể.
Nối kết hai phép lạ, chúng ta nhận ra một chân lý nền tảng của đời sống Kitô hữu: đức tin là điều kiện tiên quyết để đón nhận ơn cứu độ. Đời sống đức tin của chúng ta sẽ phong phú hay nghèo nàn tùy theo mức độ tín thác nơi Thiên Chúa. Các phép lạ Đức Giêsu thực hiện không nhằm gây choáng ngợp, nhưng để mở mắt con người, giúp họ mở rộng cõi lòng mà đón nhận lòng nhân hậu vô biên của Chúa Cha.
Bài đọc Cựu Ước hôm nay cũng gợi lên hình ảnh tình phụ tử của vua Đavít. Dù bị con mình phản loạn, Đavít vẫn không ngừng yêu thương và đau đớn trước cái chết của con. Tình phụ tử ấy phản chiếu, dù còn rất bất toàn, tình phụ tử vô điều kiện của Thiên Chúa. Chính đức tin vào tình yêu Thiên Chúa đã giúp Đavít vượt qua hận thù và trả thù, để sống lòng xót thương.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ về giá trị và sức mạnh của đức tin. Đức tin đích thực có khả năng đảo ngược mọi tình huống tưởng chừng bế tắc: một người phụ nữ loạn huyết mười hai năm được chữa lành, một đứa trẻ đã chết được phục sinh. Từ chỗ không thể, mọi sự trở nên có thể nhờ lòng tin.
Tuy nhiên, tin vào Thiên Chúa không có nghĩa là Thiên Chúa sẽ làm đúng điều chúng ta xin. Tin là xác tín rằng Thiên Chúa luôn trả lời, nhưng theo cách của một người Cha khôn ngoan và yêu thương. Có những câu trả lời đi ngược với mong muốn của chúng ta, nhưng chính trong những lúc ấy, đức tin được thanh luyện và trưởng thành. Tin là phó thác vào tình yêu của Thiên Chúa, cả khi Người làm trái ý ta, lẫn khi Người chiều theo ước nguyện của ta.
Cùng với niềm tin của ông Giairô và người phụ nữ loạn huyết, hôm nay chúng ta được mời gọi sấp mình trước Chúa Giêsu Thánh Thể, xin Người củng cố đức tin còn yếu kém của chúng ta, và dạy chúng ta biết luôn nương tựa vào quyền năng và tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh.
Câu hỏi xét mình
Tôi có dám đến với Chúa bằng một đức tin đơn sơ và tín thác như người phụ nữ loạn huyết và ông Giairô, ngay cả khi mọi sự xem ra vô vọng không?
Khi lời cầu xin của tôi không được đáp lại như mong muốn, tôi có tiếp tục tin vào tình yêu và sự khôn ngoan của Thiên Chúa hay tôi nản lòng và thất vọng?
--------------
THỨ TƯ
2Sm 24,2.9-17; Mc 6,1-6
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marcô
Khi ấy, Đức Giêsu về quê hương của Người, và các môn đệ theo Người. Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe thì kinh ngạc và nói: “Bởi đâu ông ta được những điều ấy? Khôn ngoan như vậy là gì? Những phép lạ do tay ông làm đó là sao? Ông ta không phải là bác thợ mộc, con bà Maria, anh em với các ông Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Và chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta đó ư?” Và họ vấp phạm vì Người.
Đức Giêsu nói với họ: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng thì cũng chỉ là ở chính quê hương, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” Người không thể làm phép lạ nào tại đó, chỉ đặt tay chữa lành một vài người đau yếu. Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.
Suy niệm
Thánh Marcô kể lại cho chúng ta một biến cố đầy nghịch lý: Đức Giêsu trở về quê hương Nazareth, nơi Người đã lớn lên, đã sống âm thầm suốt ba mươi năm, và chính tại đây, Người lại không được đón nhận. Khi Đức Giêsu giảng dạy trong hội đường, dân chúng kinh ngạc trước lời lẽ khôn ngoan của Người và những việc lạ lùng Người thực hiện. Thế nhưng, sự kinh ngạc ấy không dẫn họ đến đức tin, mà lại trở thành cớ vấp phạm.
Họ biết rõ “lý lịch” của Đức Giêsu: con bác thợ mộc Giuse, con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon. Đối với họ, Đức Giêsu quá quen thuộc, quá bình thường. Chính vì thế, họ không thể chấp nhận rằng Thiên Chúa lại có thể hành động nơi một con người “quen biết” như vậy. Sự quen thuộc đã khép chặt con tim họ trước mầu nhiệm.
Về phía Đức Giêsu, Tin Mừng ghi lại một chi tiết rất mạnh: Người lấy làm lạ vì lòng cứng tin của họ. Không phải vì Người thiếu quyền năng, nhưng chính sự thiếu đức tin của con người đã ngăn cản ân sủng Thiên Chúa tuôn đổ. Lòng cứng tin trở thành bức tường khép kín, khiến Thiên Chúa – Đấng tôn trọng tự do con người – không thể thực hiện những việc Người muốn làm.
Trong dòng lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã thực hiện một kế hoạch hoàn toàn vượt quá sự hiểu biết và mong đợi của loài người. Thiên Chúa không cứu độ nhân loại từ bên ngoài, nhưng đi vào lịch sử của con người, chia sẻ thân phận con người. Mầu nhiệm Nhập Thể cho thấy một Thiên Chúa dám “liều mình vì tình yêu”, mặc lấy thân phận mong manh, yếu đuối của con người.
Người Do Thái mong đợi một Đấng Thiên Sai vinh hiển, quyền lực, giải phóng họ khỏi ách đô hộ, tái lập vương quốc Israel và thống trị các dân tộc. Nhưng Thiên Chúa đã không đến theo những mong đợi mang tính trần thế ấy. Trái lại, Người đến trong âm thầm, nghèo khó, khiêm hạ. Đường lối của Thiên Chúa là con đường nghịch lý của tình yêu: quyền năng được bày tỏ trong yếu đuối, vinh quang được mặc khải trong khiêm hạ.
Chúng ta cũng không khác gì dân Do Thái năm xưa. Nhiều khi chúng ta chỉ muốn gặp một Thiên Chúa oai phong, hiển hách, xuất hiện trong những hoàn cảnh “xứng đáng” với Thiên Chúa. Thế nhưng, Chúa Cứu Thế lại thích hiện diện trong những điều rất đỗi bình thường: trong lao động hằng ngày, trong những phận người bé nhỏ, trong những hoàn cảnh tầm thường, thậm chí trong đau khổ và thử thách.
Thiên Chúa là Đấng ẩn tàng. Người thích ẩn mình trong những hoàn cảnh mà con người dễ bỏ qua nhất. Chính ở đó, Người trở nên gần gũi nhất với con người, cúi mình sát nhất trước nỗi đau và những bế tắc của chúng ta. Nhưng để nhận ra Thiên Chúa ẩn mình, cần có một con tim khiêm tốn và một đức tin đơn sơ.
Lòng cứng tin của những người đồng hương với Đức Giêsu không chỉ là câu chuyện của quá khứ. Ngày nay, vẫn còn biết bao con người từ khước Thiên Chúa vì Người không đến theo ý họ mong muốn. Biết bao chứng nhân, biết bao “ngôn sứ” của Thiên Chúa đã và đang bị loại trừ, bị hiểu lầm, thậm chí bị bách hại, chỉ vì họ loan báo một Thiên Chúa không phù hợp với não trạng hưởng thụ, quyền lực và ích kỷ của thế gian.
Khi nhìn lại thái độ của dân Nazareth, chúng ta dễ lên án họ. Nhưng Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta soi chiếu chính mình: biết đâu chính chúng ta cũng đang cứng tin khi không nhận ra Đức Giêsu đang ẩn mình nơi những người nghèo khổ, bệnh tật, nơi những con người bé mọn, nơi những biến cố rất đời thường của cuộc sống hằng ngày.
Trong hy lễ Thánh Thể hôm nay, chúng ta chiêm ngắm Đức Giêsu tiếp tục ẩn mình trong tấm bánh nhỏ bé. Vì yêu thương, Người đã hạ mình thật sâu để nâng con người yếu đuối lên. Trước mầu nhiệm tình yêu ấy, chúng ta được mời gọi xin ơn đức tin khiêm tốn, để biết nhận ra Chúa đang hiện diện và hoạt động giữa chúng ta, dù trong những hình thức rất âm thầm.
Câu hỏi xét mình
Tôi có đang khép lòng mình lại vì nghĩ rằng tôi đã “quá quen” với Chúa, đến nỗi không còn nhận ra sự hiện diện mới mẻ của Người trong đời sống hằng ngày không?
Tôi có nhận ra Chúa Giêsu đang ẩn mình nơi những người nghèo khổ, đau yếu và trong những hoàn cảnh tầm thường của cuộc sống, hay tôi chỉ tìm Chúa trong những điều lớn lao và ngoạn mục?
--------------
THỨ NĂM
1V 2,1-4.10-12; Mc 6,6-13
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marcô
Khi ấy, Đức Giêsu đi khắp các làng mạc chung quanh mà giảng dạy. Người gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai các ông đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trên các thần ô uế. Người căn dặn các ông khi ra đi, đừng mang gì, ngoài cây gậy; không bánh, không bao bị, không tiền bạc giắt lưng; nhưng được đi dép và không được mặc hai áo.
Người bảo các ông: “Bất cứ ở đâu anh em vào nhà nào, thì cứ ở lại đó cho đến khi ra đi. Còn nơi nào không đón tiếp anh em, không nghe anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để làm chứng chống lại họ.”
Các ông ra đi, rao giảng kêu gọi người ta sám hối. Các ông trừ nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau yếu và chữa họ khỏi bệnh.
Suy niệm
Bài đọc thứ nhất trích sách Các Vua thuật lại những lời trăn trối của vua Đavít trước khi qua đời. Ông truyền lại vương quyền cho Salômôn, người được Thiên Chúa tuyển chọn và xức dầu phong vương. Salômôn được thừa hưởng những lời hứa Thiên Chúa đã ban qua ngôn sứ Nathan và được mời gọi “bước đi trong đường lối của Đức Chúa”, tuân giữ luật pháp và huấn lệnh của Người. Cuộc đời Salômôn, ngay từ khởi đầu, mang dấu ấn của một sứ mạng được trao phó, một đời sống làm chứng cho Thiên Chúa giữa Dân Thánh.
Ánh sáng ấy giúp chúng ta hiểu sâu hơn bài Tin Mừng hôm nay. Sau khi rảo qua các làng mạc giảng dạy, Đức Giêsu đã gọi Nhóm Mười Hai và bắt đầu sai các ông đi truyền giáo. Chính Người là Đấng tuyển chọn, sai phái và trao ban quyền năng. Sứ vụ của các tông đồ không phát xuất từ khả năng cá nhân, nhưng từ chính Đức Giêsu: Người là khởi điểm, là trung tâm và là Đấng điều động mọi hoạt động loan báo Tin Mừng. Các ông chỉ là sứ giả và chứng nhân cho sự hiện diện của Người giữa trần gian.
Để sứ vụ truyền giáo sinh hoa kết quả, Đức Giêsu đưa ra một chương trình rất rõ ràng, nhưng cũng đầy thách đố: ra đi trong tinh thần nghèo khó, từ bỏ và phó thác. Không bao bị, không tiền bạc, không của cải dư thừa. Điều này không chỉ là một chỉ dẫn thực hành, mà là một chọn lựa thiêng liêng. Người môn đệ được mời gọi đặt trọn niềm tin nơi sự quan phòng của Thiên Chúa, chứ không cậy dựa vào phương tiện vật chất hay bảo đảm trần thế.
Đức Giêsu cũng dạy các tông đồ biết đem bình an đến cho những ai đón tiếp các ông. Nơi họ dừng chân không chỉ là chỗ trú ngụ tạm thời, mà phải trở thành một tổ ấm của Tin Mừng, một không gian của sự hiệp thông, một nền tảng cho sự hình thành cộng đoàn Hội Thánh. Chính đời sống và cung cách hiện diện của các tông đồ đã là lời rao giảng sống động.
Tuy nhiên, Đức Giêsu cũng rất thực tế. Người biết rằng sứ vụ truyền giáo sẽ không tránh khỏi sự từ chối. Vì thế, Người căn dặn các ông: nếu không được đón tiếp, hãy giũ bụi chân mà ra đi. Cử chỉ ấy không nhằm kết án, nhưng là một dấu chỉ cảnh tỉnh, cho thấy người loan báo Tin Mừng không thể thỏa hiệp với sự khước từ chân lý. Đồng thời, các ông không được để những thất bại hay từ chối làm mình nản chí, chùn bước hay bỏ cuộc.
Ngày nay, Đức Giêsu Kitô vẫn tiếp tục mời gọi và sai phái chúng ta bước vào cánh đồng truyền giáo. Mỗi Kitô hữu, nhờ bí tích Rửa Tội, đều được gia nhập vào hàng ngũ những người được sai đi. Sứ vụ truyền giáo không chỉ là một mệnh lệnh bên ngoài, mà còn là đòi hỏi nội tại của đời sống Thiên Chúa nơi chúng ta. Ai đã lãnh nhận đức tin thì không thể giữ cho riêng mình, nhưng được mời gọi làm chứng bằng đời sống yêu thương và phục vụ.
Thực tế cho thấy, công cuộc truyền giáo hôm nay vẫn đầy những khó khăn và phức tạp. Cũng như thuở ban đầu, truyền giáo đòi hỏi lòng can đảm và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chúng ta cần cầu xin ơn biết phân định, biết lắng nghe Thần Khí và để Người dẫn dắt trong từng bước đi. Mỗi Kitô hữu được mời gọi nuôi dưỡng trong lòng một đam mê tông đồ, thao thức trước biết bao anh chị em đã được Máu Thánh Đức Kitô cứu chuộc, nhưng vẫn chưa nhận biết tình yêu của Thiên Chúa.
Đối với mỗi cá nhân cũng như toàn thể Hội Thánh, việc truyền giáo phải giữ vị trí ưu tiên, vì liên quan trực tiếp đến vận mệnh con người và việc đáp trả kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Như lời Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã khẳng định trong thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Độ: “Không ai trong những người tin vào Chúa Kitô, không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn khỏi trách vụ cao cả: đó là loan báo Tin Mừng cho mọi dân tộc.”
Ý thức được tính khẩn thiết của sứ vụ ấy, trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta chạy đến với Bàn Tiệc Thánh. Chính Chúa Giêsu Thánh Thể là lương thực nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và ban sức mạnh để chúng ta trở nên những tông đồ đích thực, sẵn sàng được sai đi loan báo Tin Mừng cho thế giới hôm nay.
Câu hỏi xét mình
Tôi có ý thức rằng mình đã được Chúa sai đi làm chứng cho Tin Mừng ngay trong môi trường sống hằng ngày, hay tôi vẫn coi truyền giáo là việc của người khác?
Tôi có dám sống tinh thần nghèo khó, phó thác và can đảm, để Tin Mừng được loan báo bằng chính đời sống của tôi không?
---------------------
THỨ SÁU
Hc 47,2-11; Mc 6,14-29
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marcô
Khi ấy, vua Hêrôđê nghe danh tiếng Đức Giêsu, vì danh Người đã lừng lẫy. Có kẻ nói: “Gioan Tẩy Giả từ cõi chết sống lại, nên quyền năng mới hoạt động nơi ông.” Kẻ khác nói: “Đó là ngôn sứ Êlia.” Kẻ khác nữa lại bảo: “Đó là một ngôn sứ như các ngôn sứ xưa.”
Nhưng khi nghe vậy, vua Hêrôđê nói: “Chính Gioan ta đã cho chém đầu, nay đã sống lại rồi!” Thật vậy, vua Hêrôđê đã sai bắt Gioan và giam ông trong ngục, vì Hêrôđiađê, vợ của Philípphê anh vua, mà vua đã lấy làm vợ. Gioan nói với Hêrôđê: “Ngài không được phép lấy vợ của anh mình.”
Hêrôđiađê căm thù Gioan và muốn giết ông, nhưng không thể, vì Hêrôđê kính sợ Gioan, biết ông là người công chính và thánh thiện. Tuy nghe Gioan mà bối rối, nhưng vua vẫn thích nghe ông.
Đến ngày thuận tiện, nhân dịp sinh nhật vua Hêrôđê, khi con gái Hêrôđiađê nhảy múa làm vừa lòng nhà vua và khách dự tiệc, vua nói với cô: “Con muốn xin gì, ta cũng ban cho.”
Cô đi hỏi mẹ, và được xúi xin đầu Gioan Tẩy Giả. Vì đã trót thề và vì các khách dự tiệc, vua buồn rầu nhưng không muốn thất hứa, nên sai đao phủ đi chém đầu Gioan.
Suy niệm
Bài đọc thứ nhất hôm nay, trích sách Huấn Ca, ca ngợi vua Đavít như một con người cao cả. Nhưng sự cao cả của Đavít không hệ tại trước hết ở những chiến công hiển hách, mà ở niềm tin sâu xa và lòng tín thác trọn vẹn của ông nơi Thiên Chúa. Trong những lúc khốn cùng nhất của cuộc đời, Đavít luôn biết kêu cầu Chúa; và khi được giải thoát, ông không chiếm lấy vinh quang cho mình, nhưng dâng lên Thiên Chúa những lời ca tụng vô vị lợi. Suốt cuộc đời, Đavít đã làm chứng cho sự thánh thiện và lòng trung tín của Thiên Chúa.
Con đường chứng tá ấy được thánh Gioan Tẩy Giả tiếp nối cách trọn vẹn và triệt để, như thánh Marcô thuật lại trong bài Tin Mừng hôm nay.
Câu chuyện về cái chết của Gioan Tẩy Giả không còn xa lạ với chúng ta. Bi kịch ấy xảy ra trong một bữa tiệc sinh nhật của vua Hêrôđê – một bữa tiệc tưởng như vui vẻ nhưng lại phơi bày trọn vẹn bóng tối của tội lỗi, sự giả dối và nhu nhược của con người. Vì một lời thề bồng bột, vì sĩ diện trước mặt khách dự tiệc, và nhất là vì sự oán hận thâm độc của Hêrôđiađê, Hêrôđê đã chấp nhận ra lệnh chém đầu Gioan Tẩy Giả.
Thánh Gioan Tẩy Giả bị giết không phải vì làm điều xấu, nhưng vì dám nói lên sự thật. Ông đã can đảm lên tiếng tố cáo mối quan hệ loạn luân của Hêrôđê và Hêrôđiađê, dù biết rằng sự thật ấy có thể dẫn mình đến tù đày và cái chết. Gioan đã chặn đứng con đường bất chính của họ, và chính vì thế, ông trở thành cái gai phải bị loại trừ.
Qua trình thuật này, thánh sử Marcô cho chúng ta thấy sự đối nghịch luôn hiện diện trong xã hội trần gian: giữa người công chính và kẻ tội lỗi, giữa ánh sáng của sự thật và bóng tối của quyền lực tha hóa. Nổi bật lên giữa những nhân vật ấy là hình ảnh Gioan Tẩy Giả – người công chính, thánh thiện, trung thành với sứ mạng cho đến cùng.
Thánh Gioan Tẩy Giả là vị ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến để chuẩn bị con đường cho Đức Kitô. Ông đã nhận ra Đấng Cứu Thế bên bờ sông Giođan, và khi Đức Giêsu xuất hiện, Gioan sẵn sàng lui vào bóng tối, mời gọi các môn đệ của mình đi theo Người. Ngay cả trong ngục tù, Gioan vẫn tiếp tục sứ mạng Tiền Hô. Và cái chết của ông trở thành đỉnh cao của chứng tá, là hành vi “ẩn mình” hoàn toàn để Đức Kitô được tỏ lộ.
Gioan Tẩy Giả thực sự mang nơi mình hình ảnh của ngôn sứ Êlia. Kỷ nguyên mới đã đến, và kỷ nguyên ấy được đánh dấu bằng cái chết bi thảm của Gioan – một cái chết tiên báo cho cuộc Thương Khó của chính Đức Giêsu, và cho số phận của những ai trung thành bước theo Người.
Đối nghịch với Gioan Tẩy Giả là hình ảnh vua Hêrôđê: một con người nhu nhược, bị giằng co giữa lương tâm và dục vọng, giữa sự kính trọng mơ hồ dành cho người công chính và nỗi sợ mất quyền lực, mất thể diện. Bên cạnh ông là Hêrôđiađê, hiện thân của sự gian ác và thù hận, sẵn sàng lợi dụng cả con gái mình để đạt được mục đích xấu xa.
Cái chết của Gioan Tẩy Giả cho chúng ta thấy rõ số phận của các môn đệ và các chứng nhân của Đức Kitô mọi thời. Lịch sử Giáo Hội đã minh chứng và hôm nay vẫn tiếp tục minh chứng: làm môn đệ Chúa là chọn đứng về phía sự thật, dù sự thật ấy có thể dẫn đến bách hại, đau khổ, và thậm chí là cái chết.
Giáo Hội hôm nay vẫn tiếp nối sứ mạng của Đức Giêsu Kitô. Giáo Hội được mời gọi làm chứng cho sự thật giữa một thế giới đầy những “Hêrôđê” mới: độc tài, bất công, lạm dụng quyền lực và chà đạp phẩm giá con người. Con đường ấy không thiếu thập giá và nước mắt. Nhưng trong niềm tin, Giáo Hội xác tín rằng vinh quang phục sinh sẽ bù đắp cho mọi đau khổ, và sự trung tín sẽ được Thiên Chúa thưởng công.
Để có thể can đảm làm chứng cho Đức Giêsu Kitô như thánh Gioan Tẩy Giả, chúng ta hãy chạy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể. Chính nhờ việc rước lấy Mình và Máu Người, chúng ta được ban sức mạnh, được biến đổi, để trở thành những chứng nhân trung thành của Thiên Chúa giữa lòng thế giới hôm nay.
Câu hỏi xét mình
Trong đời sống hằng ngày, tôi có đủ can đảm để nói và sống theo sự thật, ngay cả khi sự thật ấy làm tôi thiệt thòi hoặc bị hiểu lầm không?
Tôi giống thánh Gioan Tẩy Giả – trung tín với lương tâm – hay giống Hêrôđê – biết điều đúng nhưng lại để cho sợ hãi, sĩ diện và dục vọng chi phối?
-------------------
THỨ BẢY
1V 3,4-13; Mc 6,30-34
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Marcô
Khi ấy, các Tông Đồ tụ họp chung quanh Đức Giêsu và kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm và đã dạy. Người bảo các ông: “Chính anh em hãy lui vào nơi hoang vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Quả thật, kẻ lui người tới quá đông, đến nỗi các ông không có thì giờ ăn uống.
Vậy, thầy trò xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng. Nhưng thấy các ngài ra đi, nhiều người nhận ra và từ các thành, họ chạy bộ đến trước và tụ họp lại ở đó.
Ra khỏi thuyền, Đức Giêsu thấy một đám đông thật đông, thì chạnh lòng thương, vì họ như đàn chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.
Suy niệm
Bài đọc thứ nhất hôm nay, trích sách Các Vua, kể lại một trong những trình thuật đẹp nhất về ơn khôn ngoan: lời cầu xin của vua Salômôn. Là người được xức dầu để coi sóc và gìn giữ dân Chúa trung thành với giao ước thánh, Salômôn đã không xin sống lâu, không xin giàu sang hay quyền lực, nhưng xin Thiên Chúa ban cho một tâm hồn biết lắng nghe, để phân định và xét đoán theo thánh ý Ngài.
Trong truyền thống Israel, Salômôn được xem là biểu tượng của sự khôn ngoan. Nhưng điều làm nên sự cao quý của ông không chỉ là trí tuệ xuất chúng, mà là cách ông đặt trọn niềm tin nơi Thiên Chúa, để cho Thiên Chúa hướng dẫn mọi phán đoán và quyết định của mình. Chính từ ơn khôn ngoan ấy, Salômôn có thể cai trị dân Chúa trong cái nhìn công minh, nhân từ và đầy yêu thương của một vị vua theo lòng Chúa.
Bước sang bài Tin Mừng hôm nay, thánh Marcô cho chúng ta chiêm ngắm sự khôn ngoan thượng trí của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người. Sự khôn ngoan ấy không được biểu lộ trước hết qua lời nói hùng biện, mà qua cái nhìn đầy yêu thương của Người đối với các môn đệ và đám đông dân chúng.
Trước hết là cái nhìn của Chúa Giêsu dành cho các Tông Đồ: “Chính anh em hãy lui vào nơi hoang vắng mà nghỉ ngơi đôi chút” (Mc 6,31).
Đó là cái nhìn của một vị Thầy thấu hiểu sự mệt mỏi của những người cộng tác viên thân tín. Sau những ngày rong ruổi loan báo Tin Mừng, Chúa Giêsu không đòi hỏi họ phải tiếp tục làm việc không ngừng nghỉ. Trái lại, Người mời gọi họ trở về sống thân mật với Thầy, tách khỏi đám đông, để nghỉ ngơi, để hồi phục, để được yêu thương. Trong ánh mắt ấy, các Tông Đồ chắc hẳn đã cảm nhận được sự âu yếm, cảm thông và chăm sóc của Đấng Thánh.
Nhưng cái nhìn của Chúa Giêsu còn mở rộng hơn nữa khi Người nhìn thấy đám đông dân chúng. Tin Mừng nói rằng Người “chạnh lòng thương, vì họ như đàn chiên không người chăn dắt”. Đó không phải là cái nhìn thoáng qua, nhưng là cái nhìn xuyên thấu đến tận nỗi khốn cùng của con người. Chúa Giêsu nhìn thấy sự lạc hướng, mệt mỏi, chán chường và bị bỏ rơi của dân chúng. Họ có thể đã từng bị dẫn dắt sai lạc bởi những kẻ giả danh lãnh đạo, những người không tìm ích lợi cho đoàn chiên nhưng chỉ cho bản thân mình.
Trong các Tin Mừng, chúng ta thường xuyên gặp “cái nhìn” của Chúa Giêsu. Người nhìn lên Chúa Cha trong cầu nguyện, và đồng thời nhìn về nhân loại với trái tim tràn đầy xót thương. Cái nhìn của Người không dừng lại ở bề ngoài, nhưng thấu suốt tận sâu thẳm tâm hồn. Người nhìn thấy thành Giêrusalem và khóc thương; Người nhìn thấy những phận người bị thương tổn, nghèo đói, lạc lối; Người nhìn thấy những con người đang khao khát được yêu thương và được dẫn dắt.
Chính vì thế, Chúa Giêsu đã giao phó cho các Tông Đồ sứ mạng quy tụ đoàn chiên, dẫn đưa con người về với Thiên Chúa, vị Mục Tử đích thực. Sứ mạng ấy phát xuất từ lòng thương xót, từ cái nhìn yêu thương của chính Thiên Chúa.
Thiên Chúa là Đấng nhìn thấy mọi sự. Nhưng đó không phải là cái nhìn lạnh lùng hay kết án. Đó là cái nhìn âu yếm và trung tín. Thiên Chúa thấy những khả năng nơi mỗi người và mời gọi chúng ta phát huy. Ngài cũng thấy tội lỗi, yếu đuối của chúng ta, nhưng không để kết án, mà để cứu độ và chữa lành. Không gì ẩn giấu được trước ánh mắt của Ngài, nhưng ánh mắt ấy luôn mang tính gìn giữ và bảo vệ.
Thiên Chúa nhìn con người và ban cho mỗi người một khuôn mặt độc đáo, không ai trùng lặp. Sự sống của linh hồn chúng ta được cưu mang từ chính cái nhìn yêu thương ấy. Đây là một huyền nhiệm cao cả: chúng ta hiện hữu vì được Thiên Chúa nhìn đến và yêu thương.
Trong đời sống thường ngày, chúng ta đã thực sự ý thức rằng Thiên Chúa đang nhìn chúng ta với ánh mắt trìu mến chưa? Và chúng ta có để cho ánh mắt ấy biến đổi mình không? Muốn được biến đổi, chúng ta cần xin cho “đôi mắt linh hồn” của mình được mở ra, để biết nhìn thấy Thiên Chúa và anh chị em trong ánh sáng của Ngài.
Khi tham dự Thánh Lễ hôm nay, chúng ta tin rằng Chúa Giêsu Thánh Thể đang âu yếm nhìn mỗi người chúng ta. Từ ánh nhìn ấy, chúng ta được sai đi, để biết nhìn anh chị em mình – những người đang vất vả, đau khổ, lạc lối – với cùng một ánh mắt yêu thương, cảm thông và xót thương của Đức Kitô.
Câu hỏi xét mình
Tôi có để cho cái nhìn yêu thương của Chúa Giêsu chạm đến và chữa lành những mệt mỏi, tổn thương trong đời sống thiêng liêng của tôi không?
Khi nhìn anh chị em xung quanh, tôi nhìn bằng ánh mắt phán xét hay bằng ánh mắt xót thương và trách nhiệm của người môn đệ Đức Kitô?
