Hỏa ngục đời đời đồng nghĩa với đau khổ đời đời. Làm sao Thiên Chúa được gọi là nhân lành lại cho phép điều ác vô hạn tồn tại?
Antonio Fiore : - Giáo lý dạy rằng hỏa ngục là đời đời và không thể đảo ngược. Hỏa ngục đời đời nghĩa là đau khổ đời đời. Đau khổ đời đời nghĩa là sự dữ vô hạn. Làm sao Thiên Chúa được gọi là nhân lành lại cho phép điều ác vô hạn xảy ra? Có người trả lời tôi rằng hỏa ngục không do Thiên Chúa tạo ra, mà là hệ quả của tự do. Nhưng nếu tự do dẫn đến điều ác vô hạn, thì bản thân tự do không phải là một điều thiện hữu ích và lẽ ra nó không nên được tạo thành. Tôi vô cùng biết ơn nếu cha có thể giúp tôi về vấn đề này, vì nó gây cho tôi rất nhiều khó khăn.
Trả lời của Linh mục Francesco Vermigli, giáo sư Thần học tín lý:
“Làm sao Thiên Chúa được gọi là nhân lành lại cho phép điều ác vô hạn tồn tại?” Từ lá thư mà ông Antonio Fiore gửi đến chuyên mục, chúng ta sẽ khởi đầu bài viết bằng việc xoáy sâu vào câu hỏi mang tính quyết định này, bởi nó đặt vấn đề về việc làm sao Thiên Chúa có thể cho phép tồn tại một tình trạng sự dữ bất khả đảo ngược như trường hợp hỏa ngục. Trước hết, tôi muốn làm rõ ý nghĩa của từ “bất khả đảo ngược” (hay tính dứt khoát), tiếp sau là ý niệm về tự do nào cần được xem xét khi nói về việc lựa chọn Thiên Chúa.
Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, như chính độc giả đã viện dẫn, khẳng định rằng: “Chính trình trạng tự loại trừ mình cách vĩnh viễn khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa và với các Thánh, được gọi bằng từ “hỏa ngục” (GLHTCG 1033). Chúng ta hãy đi từng bước. Trước hết, từ những lời của Sách Giáo lý, ta hiểu rằng điều chúng ta gọi là “hỏa ngục” không phải là một không gian vật lý (cũng như thiên đàng tự nó không phải là một nơi chốn vật lý), nhưng là một “tình trạng”, nghĩa là một điều kiện hiện hữu trong mối tương quan với Thiên Chúa. Hơn nữa, chúng ta hiểu rằng tình trạng này là dứt khoát, nghĩa là không thể thay đổi: trong cõi đời đời, không còn khả năng thay đổi trình trạng của mình đối với Thiên Chúa; chúng ta được ghi dấu vĩnh viễn bởi chính cách thức chúng ta bước vào chính cõi đời đời ấy. Ngay cả luyện ngục, xét cho cùng, cũng thuộc về trường hợp này, bởi vì nó không bao hàm việc thay đổi đích đến của mình: đó là một tình trạng thanh luyện, chỉ có một hướng duy nhất, là tiến về sự hiệp thông trên trời với Thiên Chúa (x. GLHTCG 1030).
Chúng ta đi sâu hơn. Như vậy, cũng có thể nói rằng trong hỏa ngục việc hoán cải là bất khả thi. Thực vậy, đây chính là lý do khiến Huấn quyền của Hội Thánh, qua các thế kỷ, đã phản đối lại giả thuyết cầu nguyện cho sự hoán cải của ma quỷ, bởi một lời cầu nguyện như thế là vô ích. Việc cầu nguyện cho ơn cứu độ của ma quỷ là vô ích (x. Denzinger 411), là vì hành vi tự ý phản nghịch chống lại Thiên Chúa của nó trở nên bất khả thu hồi ngay tại thời điểm nó được thực hiện (x. GLHTCG 393).
So sánh với thiên thần sa ngã giúp chúng ta hiểu rõ hơn tình trạng của con người, một khi đã chết rồi con người không còn khả năng thay đổi tình trạng của mình trong tương quan với Thiên Chúa. Như vậy, tính bất khả thu hồi hay tính dứt khoát, không hệ tại ở việc khiếm khuyết lòng thương xót của Thiên Chúa, mà ở chỗ sau khi chết – và sau cái gọi là “phán xét riêng” – sự chọn lựa mà con người đã thực hiện trong đời sống của mình được vĩnh cửu hóa. Lịch sử, đời sống, sự hiện hữu là thao trường nơi cuộc chiến anh dũng diễn ra: đó là chiến trường của tự do chọn lựa hướng về Thiên Chúa. Vì thế, thứ mà chúng ta gọi là thế giới bên kia chính là sự vĩnh cửu hóa sự chọn lựa mà con người đã thực hiện khi còn sống; dẫu rằng biết rằng, về phương diện suy tư thần học, cần phải nhìn nhận một khoảng cách rất lớn, giữa việc chọn lựa Thiên Chúa (và khi chọn Thiên Chúa, ta được nếm hưởng trước điều gì đó ở cõi đời đời) và việc sống mãi mãi với Ngài.
Từ những dòng trên cho chúng ta thấy – và như chính ông Fiore cũng nhận xét (“người ta trả lời tôi rằng hỏa ngục không phải là sáng tạo của Thiên Chúa, nhưng là hệ quả của tự do”) – tình trạng sống trong hỏa ngục (cũng như ở thiên đàng, dĩ nhiên) bao hàm chủ đề tự do. Nhưng vấn đề then chốt là ý niệm về tự do mà chúng ta có hiểu theo nghĩa nào. Từ câu: “nếu tự do dẫn đến điều ác vô hạn, thì bản thân tự do không phải là một điều thiện hữu ích và lẽ ra nó không nên được tạo thành”, chúng ta thấy quan niệm về tự do như thứ gì đó không tốt. Chính vì con người, trong tự do của mình, có thể chọn cả sự dữ và rơi vào sự dữ mà không có điểm kết thúc – điều mà chúng ta gọi là hỏa ngục – nên tự do không phải là một điều thiện. Trong phần kết của bài viết này – như đã gợi ý ở trên – tôi muốn tập trung vào cách chúng ta nên hiểu “tự do” như thế nào.
Về cơ bản, có hai cách để hiểu về tự do. Cách thứ nhất hiểu tự do như việc đứng giữa thiện và ác: đây là một cách hiểu khá hiện đại, có thể gọi là “tự do trung lập”. Con người được đặt ở khoảng cách ngang bằng giữa thiện và ác, và tự do được đo lường bằng khả năng tương đương trong việc chọn điều thiện hay điều ác. Nhưng liệu đây có thực sự là thứ tự do mà chúng ta có thể rút ra từ mặc khải và từ lịch sử cứu độ không?
Có một số khẳng định nền tảng mà chúng ta có thể rút ra từ Kinh Thánh và từ lịch sử tín điều, và những khẳng định này có trước khái niệm về tự do. Khẳng định nền tảng thứ nhất là: mọi sự đã được tiền định trong kế hoạch của Thiên Chúa, một kế hoạch được ghi dấu bởi lòng nhân hậu và tình yêu (x. Êp 1,3-12). Khẳng định thứ hai là: Thiên Chúa đã tạo dựng mọi sự trong thiện lành (x. Công đồng Lateranô IV, Firmiter credimus: Denzinger 800).
Nói đến việc được tạo dựng trong sự thiện và được tiền định hướng về điều thiện có nghĩa là đi lùi lại trước cả hành vi tự do của chúng ta. Nói cách khác, điều thiện, sự tiền định, tình yêu của Thiên Chúa được trao ban cho con người có trước cả hành vi tự do của chúng ta: chúng là thực tại mà tự do gặp thấy trước cả chính nó. Do đó, tự do theo Mặc Khải không thể là tự do “trung lập”, nhưng là tự do được mời gọi để tự nguyện ôm lấy điều thiện, bởi vì tự do được làm ra cho điều thiện, được định hình cho điều thiện, và tiên giả định điều thiện.
Tự do là hành vi hiện sinh qua đó chúng ta nhận lấy điều thiện mà vì nó chúng ta đã được tạo dựng; điều thiện ấy đang đứng trước mặt và đòi hỏi được đón nhận. Nói cách khác, đó là việc tự nguyện và tự do đón nhận vào trong đời sống mình điều mà vì nó chúng ta đã được tạo dựng. Tự do là tiếng “vâng” của con người đáp lại tiếng “vâng” đầu tiên: tiếng “vâng” ưu tiên, đi trước và nhân lành của Thiên Chúa dành cho con người và cho toàn thể thụ tạo. Tự do là tiếng “vâng” nhờ đó chúng ta được thông phần vào thiện hảo đời đời của Thiên Chúa.
G. Võ Tá Hoàng
từ link gốc https://www.toscanaoggi.it/
