Xây dựng tình huynh đệ phổ quát, một lối sống mang hương vị Tin Mừng


XÂY DỰNG TÌNH HUYNH ĐỆ PHỔ QUÁT

Một lối sống mang hương vị Tin mừng






Giuse Võ Tá Hoàng

DẪN NHẬP

Chúng ta bước vào thế kỷ 21 với một vết thương khá sâu rộng. Cả nhân loại phải đương đầu với cơn đại dịch Covid-19 đang tàn phá xã hội. Một thách thức quan trọng ngày nay, đặc biệt giai đoạn sau đại dịch covid-19, là xây dựng lại mối quan hệ đúng đắn giữa các mối liên hệ xã hội, giữa người với người. Cho nên, đây là cơ hội đặc biệt để đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến mối liên hệ đó trong một thế giới rộng lớn.

Thông điệp Fratelli Tutti của Đức Giáo hoàng Phanxciô, công bố ngày 3/10/2020, cho thấy thế giới mà chúng ta đang sống đã có một bước tiến thật dài trong sự liên đới, cùng nhau làm việc để vượt thắng những chia rẽ, cổ võ hòa bình và thiết lập mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia, thế nhưng thế giới này vẫn đang đi khập khiễng bằng những lối đi riêng và đầy ích kỷ của mình. Thật vậy, trong thời gian qua mọi hình thức mới mẻ về văn hóa, lịch sử, chính trị, kinh tế, học thuyết không đem lại lợi ích chung tốt đẹp nào cho toàn thể nhân loại, trái lại nó trở thành bóng tối của một thế giới khép kín. Những giấc mơ tan vỡ. Các cuộc xung đột ngày càng bùng phát. Các hình thức chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan, thù hằn và hiếu chiến đang trỗi dậy. Nền kinh tế toàn cầu không thống nhất thế giới nhưng chia rẽ loài người và các quốc gia. Chủ nghĩa cá nhân, tự do lên ngôi làm cho cảm thức lịch sử ngày càng lu mờ, di sản tinh thần và nhân văn phong phú do các thế hệ cha ông để lại bị chối bỏ. Hệ thống chính trị không còn đóng vai trò hướng dẫn, phục vụ, nhằm cải thiện điều kiện dân sinh và gia tăng thiện ích chung, trái lại được huy động để cường điệu hóa, cực đoan hóa, gây chia rẽ. Nền văn hóa lợi nhuận, hưởng thụ chỉ tìm kiếm những thành quả tức thời mà không quan tâm đến việc chăm sóc, làm giảm nguồn tài nguyên, tạo nên một lối sống vứt bỏ. Bất bình đẳng gia tăng và vì thế nảy sinh những hình thức nghèo đói mới. Quyền con người không còn được xem như có giá trị tối cao cần phải được tôn trọng và bảo vệ, nhưng bị chối bỏ cách tàn nhẫn hoặc bị khinh khi, chà đạp, xem như những thứ dư thừa, không cần thiết. Các phương tiện truyền thông đại chúng làm suy giảm đạo đức, làm cho những giá trị tinh thần cùng ý thức trách nhiệm bị suy yếu đi[1]. Bóng tối đang bao trùm thế giới đẩy nhân loại vào cô đơn và sợ hãi.

Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhận định: “Thế giới ngày nay, cảm thức thuộc về một gia đình nhân loại duy nhất ngày càng phai nhạt, và giấc mơ cùng chung tay xây dựng công lý và hòa bình dường như là điều không tưởng, lỗi thời. Ngự trị thay vào đó là sự lãnh đạm tiện lợi, lạnh lùng và bao trùm, phát sinh từ mối thất vọng sâu xa, mối thất vọng được che giấu bởi sự xảo trá của ảo tưởng tin rằng chúng ta toàn năng, mà không nhận thấy tất cả chúng ta đều trên cùng một con thuyền. Ảo tưởng này chẳng quan tâm gì đến những giá trị cao cả của tình huynh đệ, dẫn chúng ta đến một loại hoài nghi. Đó là cơn cám dỗ chúng ta phải đối diện nếu đi vào con đường chán nản hoặc thất vọng”.[2]

Đứng trước thực trạng trên, Đức Giáo hoàng kêu gọi toàn thể nhân loại cùng nhau “góp phần làm sống lại khát vọng phổ quát về tình huynh đệ”[3], xây dựng một lối sống “mang hương vị Tin mừng”[4], vượt khỏi các rào cản địa lý và không gian, để “không ai có thể đơn độc đương đầu với cuộc đời”, [5] vì tất cả đều là anh em.

Vì thế, mục đích của bài viết này cho thấy bản chất của tình huynh đệ Kitô giáo trong giáo huấn của Đức Giáo hoàng Phanxicô, là một trong những yếu tố căn bản để xây dựng một chủ nghĩa nhân văn mới và các mối quan hệ trên thế giới. Điều này đem lại cơ hội để chúng ta nhận ra nơi người khác, bất kể tôn giáo hay tín ngưỡng của họ, không phải là đối thủ hay địch thù, một mối đe dọa hay cản trở, nhưng đều là anh chị em trong Chúa Kitô.

Sau khi tìm hiểu nguồn gốc Thánh Kinh về tình huynh đệ, chúng ta sẽ lược qua truyền thống thần học dựa trên các văn kiện và suy tư của các Giáo hoàng. Sau cùng là tình huynh đệ theo tư tưởng của Đức Giáo hoàng Phanxicô, một phong cách mới mẻ, như nền tảng cho việc xây dựng một lối sống mang hương vị Tin mừng.

I. TÌNH HUYNH ĐỆ TRONG THÁNH KINH VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA GIÁO HỘI

1. Nguồn gốc và ý niệm về tình huynh đệ trong Thánh Kinh

Thuật ngữ “tình huynh đệ” cũng như ý tưởng của nó không hề xa lạ với tư tưởng Kitô giáo và có lịch sử lâu đời, bởi vì các mối tương quan Kitô giáo luôn được đánh dấu bằng tình huynh đệ. Trong Tin mừng Chúa Giêsu đã đưa ra một nguyên tắc chung và cố gắng chỉ ra bản chất của hành động Kitô giáo trong và ngoài cộng đoàn: “Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là "rápbi", vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Kitô” (Mt 23,8-10). Những lời này cho thấy rằng trong cộng đoàn của Chúa Giêsu, tất cả mọi người đều bình đẳng, cuộc sống của họ cần được hướng dẫn bởi sự liên đới và bước theo con đường phục vụ.

Ý nghĩa Thánh Kinh của thuật từ “tình huynh đệ” có thể được tập trung vào hai cực: Từ Ađam (x. St 1-2) và “từ một người duy nhất, Thiên Chúa đã tạo thành toàn thể nhân loại” (Cv 17,26), được hợp nhất trong cộng đoàn qua sự liên đới với Chúa Kitô “trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29). Tình huynh đệ của mọi người trong Thiên Chúa xuất phát từ mối tương quan giữa Con với Cha, qua đó cho chúng ta thấy được cách thức xây dựng mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa và với nhau. Tình huynh đệ tự nhiên, dựa trên quan hệ máu mủ họ hàng, được hoàn tất nhờ tình huynh đệ thiêng liêng dành cho tất cả những ai tin vào Chúa Giêsu.

Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu Rôma phải xây dựng tình bác ái, “thương mến nhau trong tình huynh đệ” (x. Rm 12, 9-10). Thần học về nhân đức yêu thương cho thấy rằng người Kitô hữu yêu mến Thiên Chúa nơi tha nhân và yêu mến nhau vì Chúa. Theo thần học của Gioan, tình yêu đối với Thiên Chúa được biểu lộ nơi tình huynh đệ, và ghen ghét anh em mình là một biểu hiện của việc thiếu vắng tình yêu dành cho Thiên Chúa (x. Ga 4; 1Ga 3,14-15).

2. Truyền thống thần học về tình huynh đệ

Theo Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, ý nghĩa ban đầu của tình huynh đệ giới hạn trong mối quan hệ họ hàng bắt nguồn từ mối quan hệ huyết thống. Đối với Platon, một người đồng hương là anh em, và với Xenophon[6] thì một người bạn cũng là anh em. Theo quan điểm này, ranh giới của tình huynh đệ dựa trên một quốc tịch chung, người ngoại kiều sẽ không được cư xử như người anh em.

Trong Cựu ước, tình huynh đệ được nối kết với người thuộc về dân được Thiên Chúa tuyển chọn. Được gọi là anh em khi có chung một đức tin vào cùng một Thiên Chúa (x. Xh 2,11; Lv 10, 4; Gr 22, 18-19). Nguồn gốc của sự thống nhất này trước hết, dựa trên hành động Thiên Chúa tạo nên con người giống hình ảnh Ngài, đã được xác nhận qua giao ước của Ngài với Nôe; tiếp đến, trong giao ước với Abraham, nhân loại trở thành một gia đình đặc biệt, tách ra từ gia đình của Ađam và Nôe.[7]

Các bản văn Tân ước giúp chúng ta nhận ra được ý nghĩa của từ “tình huynh đệ” trong giáo huấn của Chúa Giêsu. Trước hết, nó có nghĩa là một người tuyên xưng cùng một tôn giáo, thuộc cùng một quốc gia, như trường hợp của dân Do Thái (x. Mt 5,22; 24,27; 7, 3-5; Lc 17, 3). Ý nghĩa thứ hai liên quan đến những đoạn mà Chúa Giêsu gọi các môn đệ của Ngài là anh em hay nói chuyện với họ như anh em (x. Mt 28,10; Ga 20,17). Việc Chúa Giêsu dùng từ “anh em” khi nói với 12 môn đệ là một sự cắt đứt cách diễn đạt của người Do Thái và ám chỉ đến việc thiết lập một dân tộc mới của Thiên Chúa, trong đó tình huynh đệ lớn lao hơn được thực hiện. Cách giải thích thứ ba, điển hình là Kitô giáo, giải thích về tình anh em có thể được tìm thấy trong Mc 3, 31-35, khi nghe tin mẹ và anh em của Ngài đến tìm Ngài, Chúa Giêsu đặt câu hỏi: “Ai là mẹ tôi, ai là anh em tôi?”, và chỉ ra rằng điều quan trọng hơn mối liên hệ huyết thống là mối dây thiêng thiêng, vì nó diễn tả chính mình trong việc phục tùng ý muốn của Thiên Chúa.[8]

Sau này các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi tiếp tục gọi những người theo Chúa là anh chị em của họ (Cv 2, 29.37; 7, 2; Rm 9, 3). Tuy nhiên việc phát triển ý niệm này hầu hết nhờ thánh Phaolô, người đã gọi các Kitô hữu là anh em, đồng đạo. Giống như trong Cựu ước, tình huynh đệ được thiết lập dựa vào tình phụ tử của Thiên Chúa, cho nên thánh Phaolô nhấn mạnh đến chiều kích Ba Ngôi, được mô tả như sau: “Tình phụ tử của Thiên Chúa trước hết ám chỉ đến người Con, Đức Kitô, và qua Ngài “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: Ápba, Cha ơi!”” (Gal 4,6).[9] Vì vậy tình phụ tử và huynh đệ chứa đựng một nội dung phong phú, chúng không chỉ mang đặc tính hiện sinh, nhưng còn hướng tới ý nghĩa hữu thể học. Theo suy nghĩ của thánh Phaolô, tình huynh đệ được hiểu theo cách này không có tính phổ quát, vì mọi người có thể gia nhập vào cộng đoàn Kitô hữu, nhưng nếu anh muốn trở thành anh em chỉ khi anh trở nên một, sống như lời Chúa truyền. Các Kitô hữu được kêu gọi bày tỏ tình yêu hướng đến mọi người, nhưng được gọi là tình yêu huynh đệ chỉ khi nó hướng đến người anh em.[10]

Kinh nghiệm này của Giáo hội nguyên thủy được khai triển trong suy tư của khoa Giáo hội học. Việc gia nhập vào cộng đoàn Giáo hội qua Phép rửa làm cho chúng ta có thể gọi Giáo hội là Mẹ và gọi Thiên Chúa là Cha. Dưới ảnh hưởng của sự bách hại, cộng đoàn tiên khởi đóng cửa với các mối liên hệ bên ngoài, đồng thời củng cố mối dây nội bộ qua việc tham dự vào hành động hiệp nhất quan trọng, là Bí tích Thánh Thể.[11] Từ thế kỷ thứ III trở đi, thuật từ “anh em” ít được dùng để nói về một Kitô hữu, trong khi thuật từ tình huynh đệ, tiếng Latinh là fraternitas, bắt đầu được sử dụng để ám chỉ đến một cộng đoàn Giáo hội.[12]

Từ “tình huynh đệ” đã mang lấy một giọng điệu chính trị nhất định từ cuộc cách mạng Pháp, khi nó trở thành sự tiếp nối cho việc thực hiện hóa những ý tưởng tự do, bình đẳng và huynh đệ. Theo quan điểm này, tình huynh đệ phổ quát không đặt nền tảng trên bất kỳ loại ràng buộc nào với Thiên Chúa, nhưng chỉ dựa trên nền tảng con người tự nhiên. Đây là lý do tại sao mọi biên giới và rào cản giữa con người phải được bãi bỏ, và một tinh thần mới được áp dụng cho tất cả mọi người. Cách tiếp cận với tình huynh đệ này, cách nghịch lý, nó chống lại con người lẫn các ý tưởng của chủ nghĩa tự do. Và một mối nguy tương tự nảy sinh từ sự bóp méo ý nghĩa của tình huynh đệ trong chủ nghĩa Mácxít, bằng cách chia nhân loại thành hai nhóm đối lập, đối kháng: Những người sở hữu đất đai, giai cấp tư bản và giai cấp vô sản, sẽ không bao giờ có mối tương quan huynh đệ với nhau. Ý tưởng thống nhất hai nhóm này thành một xã hội thống nhất không giai cấp trong một tương lai vô định là để thuyết phục con người tin vào các giả định của triết học Mácxít.[13]

Đối với Kitô giáo, người tín hữu luôn được mời gọi sống tình huynh đệ trong một mối dây yêu thương, bất kể họ là ai, không phân biệt niềm tin tôn giáo, cũng được đón nhận như anh em trong tương quan với Chúa Kitô. Thánh Phaolô đã khuyên nhủ cộng đoàn Thêxalônica: “Hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, vì đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1 Tx 5, 16-18; x. Ep 6,18).

2.1 Công đồng Vatican 2

Với Công đồng Vatican 2, các khía cạnh quan trọng của tình huynh đệ đã được nêu ra trong các văn kiện. Điều đáng lưu ý ở đây là khoa Giáo hội học của Công đồng Vatican II mang đến nhiều hình ảnh khác nhau về Giáo hội; nó được hiểu như là Dân Thiên Chúa, Thân thể Chúa Kitô và đền thờ của Chúa Thánh Thần. Sau Thượng hội đồng Giám mục năm 1985, quan điểm về Giáo hội như là Cộng đoàn được mở rộng, bao gồm cả thuật ngữ fraternitas, mặc dù khi đó nó không tạo ra sự quan tâm rộng lớn.

Trước hết, các nghị phụ nhắc nhở rằng nét đặc trưng của cộng đoàn các tín hữu đó là thắt chặt mối dây liên kết huynh đệ. Giáo hội là dấu chỉ của tình huynh đệ, vì thế cho nên Giáo hội có thể đối thoại chân thành với người khác.[14] Các tín hữu tin vào Chúa Kitô được hợp nhất quanh bàn tiệc Thánh Thể[15] và thể hiện ra bên ngoài bằng tình yêu huynh đệ dành cho tha nhân.[16]

Chiều kích thứ hai của tình huynh đệ dưới ánh sáng của giáo huấn Công đồng Vatican II liên quan đến các mối dây liên kết giữa các thừa tác viên bí tích. Các giám mục “tụ họp gia đình Thiên Chúa là cộng đoàn huynh đệ có cùng một tâm hồn, và nhờ Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần, dẫn đưa cộng đoàn ấy về với Thiên Chúa Cha”,[17] trong khi “nhờ việc tham dự cùng một chức thánh và sứ mệnh chung, các linh mục gắn bó mật thiết với nhau trong tình huynh đệ, bộc lộ một cách tự phát tự nguyện qua sự tương trợ cả tinh thần lẫn vật chất, trong phạm vi mục vụ cũng như trong phạm vi cá nhân, trong các buổi hội họp, cũng như trong sự hiệp thông với nhau qua đời sống, việc làm và tình bác ái”.[18]

Chiều kích thứ ba của tình huynh đệ trong các bản văn công đồng làm cho chúng ta ý thức về đặc tính phổ quát của nó. Việc Chúa Kitô đến thế gian cho thấy rằng Ngài là anh của mọi người, đã đi vào lịch sử nhân loại để đưa mọi người đến sự hiệp nhất và hòa hợp, đó là ước muốn sâu xa nhất của toàn thể nhân loại. Các nghị phụ của công đồng đã chỉ ra rằng dấu chỉ của thời nay là phát triển ý thức về tình liên đới giữa các dân tộc, trong khi nhiệm vụ tông đồ chính yếu của giáo dân là rao truyền tình huynh đệ đích thực. Tuyên tôn Nostra Aetate đã tuyên bố: “Chúng ta không thể kêu cầu Thiên Chúa là Cha mọi người nếu chúng ta không muốn xử sự như anh em đối với một số người cũng được tạo dựng giống hình ảnh Chúa".[19]

Chiều kích thứ tư, Công đồng Vatican II chỉ ra rằng người Kitô hữu cần phải làm việc cùng nhau vì lợi ích của tình huynh đệ phổ quát. Tinh thần của nó phải ngự trị giữa Các kitô hữu và những người không phải là kitô hữu, và điều đó sẽ dẫn đến việc giảm bớt sự bất bình đẳng về vật chất giữa các cư dân trên thế giới thông qua việc công nhận và tôn trọng thiên luật và luật tự nhiên.[20]

2.2 Thánh Giáo hoàng Phaolô VI

Rất nhiều lần Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đề cập đến vấn đề tình huynh đệ. Đặc biệt trong buổi tiếp kiến ​​chung đầu tiên năm 1963, ngài lưu ý rằng cộng đoàn của Giáo hội có cội nguồn từ ý thức trở thành anh em trong Chúa Kitô và là con của cùng một Cha.[21] Trong một thông điệp radio phát ngày 22 tháng 12 năm 1964, dịp Lễ Giáng Sinh, Đức Phaolô VI đã đề cập đến chủ đề tình huynh đệ “chân thật hơn, hữu hiệu hơn, phổ quát hơn những gì đã liên kết mọi người với nhau”.[22] Lần khác, ngài tuyên bố rằng tình huynh đệ là điều gì đó xuất hiện một cách tự nhiên trong tâm trí, bởi vì thay vì coi người khác như kẻ xa lạ, đối thủ hay kẻ thù, thì chúng ta nên xem mọi người như chúng ta, xứng đáng được tôn trọng và yêu thương. Ngoài ra, Thánh Phaolô VI còn liệt kê những trở ngại đối với tình huynh đệ là: chủ nghĩa dân tộc, phân biệt chủng tộc, trang bị vũ trang, chia rẽ giai cấp và hận thù. [23]

Trong thông điệp Populorum progressiveio (1967), Đức Giáo hoàng Phaolô VI nhấn mạnh rằng đoàn kết thực sự là một trong những bổn phận của những người giàu có nói riêng[24], và đó là kết quả của tình huynh đệ nhân loại và siêu nhiên. Nó bắt nguồn từ nghĩa vụ liên đới, công bằng xã hội và tình yêu phổ quát.

Trong Thông điệp “Mọi người là anh em của tôi”,[25] ban hành nhân ngày Hòa bình Thế giới lần IV, năm 1971, Đức Phaolô VI cho rằng việc xây dựng tình huynh đệ được thực hiện bằng cách giáo dục các thế hệ trẻ tin rằng mọi người đều là anh em với chúng ta. Ngài cũng đề cập đến “quy tắc vàng” từ bài giảng trên núi của Chúa Giêsu: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì đây là lề luật của các tiên tri” (Mt 7,12).

2.3 Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II

Theo một chiều kích hơi khác, bản chất của tình huynh đệ nhân loại được thánh Gioan Phaolô II xác định rõ hơn. Trong thư gửi Đức Hồng Y Agostino Casaroli về công việc được giao phó cho Tòa thánh năm 1982, ngài chỉ ra rằng một trong những nhiệm vụ của Tòa thánh là tạo ra một bầu khí tôn trọng lẫn nhau, dựa trên tình huynh đệ nhân loại và Kitô giáo. Công lý nên được phối hợp với tình huynh đệ, đó là tình yêu của con người trong sự thật. Nhiệm vụ cổ xúy tình huynh đệ là trọng tâm của các hoạt động của Giáo hội và tất cả các tổ chức của Giáo hội, đặc biệt là Giáo triều Rôma. [26]

Chính vì vậy, trong những cuộc gặp gỡ cầu nguyện liên tôn tại Assisi, ngày 27/10/1986 và 24/1/2002, luôn với mục đích tăng cường tình huynh đệ giữa các tôn giáo với nhau. Quyết định của vị giáo hoàng người Ba Lan tổ chức một Thượng Hội đồng bất thường cho Liban tại Beirut, được công bố vào ngày 6 tháng 6 năm 1991, cũng gây ngạc nhiên cho một số giới chức Công giáo. Thượng hội đồng diễn ra vào ngày 26 tháng 11 đến ngày 14 tháng 12 năm 1991, sau khi kết thúc cuộc xung đột lớn từ những năm 1975-1990 ở đất nước đó. Công việc này giúp chúng ta có thể phát hiện ra rằng trong các tình huống xung đột, trước hết người ta phải tìm cách liên kết những người khác nhau, kể cả trong tinh thần huynh đệ. Điều này cũng được phản ánh trong lời khuyến cáo sau Thượng Hội đồng của Đức Giáo hoàng về niềm hy vọng mới cho Liban năm 1997.[27]

2.4 Giáo hoàng Bênêđictô XVI

Khi trở thành Giáo hoàng, trong thông điệp Caritas in Veritate năm 2009, Đức Bênêđictô XVI đã dành toàn bộ chương thứ ba của tài liệu này cho vấn đề tình huynh đệ và xã hội dân sự. Theo ngài, dù việc tìm kiếm một chủ nghĩa nhân văn mới là rất thích hợp, nhưng sự phát triển ngày nay bị thoái trào chính là do thiếu vắng tình huynh đệ giữa các dân tộc và các quốc gia.

Tiếp nối tư tưởng trong thông điệp Centesimus Annus (1991) của Thánh Gioan Phaolô II, Đức Bênêđictô XVI đã chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống bao gồm ba chủ thể: thị trường, nhà nước và xã hội dân sự. Điểm thứ ba phải là môi trường đặc biệt để xây dựng một “nền kinh tế vô vị lợi” và tình huynh đệ.[28] Ngôi làng toàn cầu mà thế giới đã trở thành dường như đang đem mọi người đến với nhau, nhưng nó không làm cho họ trở thành anh em với nhau.[29] Nó cần tham chiếu đến tình phụ tử của Thiên Chúa. “Lý trí ở tự nó có thể hiểu sự bình đẳng giữa con người và thiết lập một đời sống dân sự ổn định, nhưng không thể tạo được tình huynh đệ. Tình huynh đệ này bắt nguồn từ ơn gọi siêu việt của Thiên Chúa Cha, Đấng yêu thương chúng ta trước và dạy dỗ chúng ta qua Người Con để biết bác ái huynh đệ là gì”.[30]

Trong bài nói chuyện với các nhà ngoại giao mới vào ngày 16 tháng 12 năm 2010 về chủ đề tình huynh đệ con người, ngài lưu ý rằng mặc dù thuật ngữ này có trong phương châm của nhiều quốc gia, nhưng đã mất đi tầm quan trọng của nó vì chủ nghĩa cá nhân hoặc chủ nghĩa tập thể, khi dành vị trí đầu tiên cho tự do, bình đẳng hoặc tiến bộ của sự liên đới. Trong cách tiếp cận như vậy, Giáo hội “vì lý do này không hành động như một người vận động hành lang, chỉ quan tâm đến lợi ích của mình, nhưng hoạt động dưới cái nhìn của Đấng tạo dựng tất cả mọi người, với mong muốn tôn vinh phẩm giá của mỗi người và mọi người”.[31]

Đức Bênêđictô XVI đã trình bày ý nghĩa tình huynh đệ Kitô giáo bằng cách đối chiếu lịch sử của con người trong mối liên quan với lịch sử của Rôma và Kitô giáo. Các Thánh Phêrô và Phaolô, những người có mối quan hệ huynh đệ trong đức tin có ý nghĩa đặc biệt trong thành phố vĩnh cửu, trái ngược với hai anh em thần thoại Romulus và Remus, và theo nghĩa rộng hơn, đối với mối tương quan tồi tệ giữa hai anh em Cain và Abel. Đức Bênêđictô XVI kết luận tình huynh đệ đích thực tìm thấy nền tảng thích hợp của nó khi theo bước chân của Chúa Giêsu.[32]

II. XÂY DỰNG TÌNH HUYNH ĐỆ PHỔ QUÁT

Tất cả các khía cạnh của tình huynh đệ đều được phản ánh trong giáo huấn của Đức Giáo hoàng Phanxicô, trong đó bao gồm các khía cạnh mới mẻ của thực tại này. Có vẻ như Đức Phanxicô, hơn bất kỳ vị tiền nhiệm nào của mình, đang cố gắng xây dựng một tình huynh đệ phổ quát, nó phản ánh suy tư về bản chất chính yếu nhất của Kitô giáo. Ngoài tính phổ quát, nó còn bao gồm sự cởi mở, không biên giới, tôn trọng sự đa dạng và về cơ bản cần tôn trọng phẩm giá chung và bất khả xâm phạm của con người. Chính ngài đã nói rất rõ trong thông điệp Frattelli Tutti: “Tôi luôn ưu tư đến các vấn đề liên quan đến tình huynh đệ và tình bằng hữu xã hội. Những năm gần đây, trong các dịp khác nhau, tôi đã nhiều lần đề cập về chủ đề đó. Trong thông điệp này, tôi muốn thu tập và đặt chúng trong bối cảnh suy tư và rộng lớn hơn”.[33] Thực ra, đó là một trong những chủ đề chính mà Đức Phanxicô đã đề cập vào ngày ngài được chọn kế vị ngai tòa thánh Phêrô, khi nói về “hành trình huynh đệ” của Giám mục Rôma và dân tộc của ngài: “Chúng ta hãy luôn cầu nguyện cho nhau. Chúng ta hãy cầu nguyện cho toàn thế giới, để có thể có một tinh thần huynh đệ tuyệt vời. Tôi hy vọng rằng hành trình này của Giáo hội mà chúng ta bắt đầu từ hôm nay, [...] sẽ mang lại kết quả cho việc truyền giáo của thành phố xinh đẹp này".[34] Chủ đề này của ngài trở lại cả trong các Thông điệp cho ngày Hòa bình Thế giới, những lời huấn dụ cũng như trong nhiều bài phát biểu trước các đại sứ, các tổ chức quốc tế, hiệp hội và các thành viên của các học viện.

Đức Giáo hoàng Phanxicô thực sự đã thu hút sự chú ý đến “tình huynh đệ” trong thông điệp Lumen Fidei năm 2013, ngài nói: “Trong thời đại tân tiến này, con người tìm cách xây dựng một tình huynh đệ phổ quát dựa trên sự bình đẳng. Tuy nhiên, chúng ta dần dần hiểu rằng tình huynh đệ này sẽ không sao có được nếu không quy chiếu về người Cha chung như là nền tảng tối hậu. Cần phải quay về nền tảng đích thực của tình huynh đệ. Lịch sử của đức tin, từ khi bắt đầu, cũng là lịch sử của tình huynh đệ, dù trong đó vẫn có những đụng chạm đối kháng”.[35] Đức Phanxicô thậm chí còn đưa ra một định nghĩa về tình huynh đệ. Theo ý ngài, “tình huynh đệ là một chiều kích căn cốt của con người vì chúng ta là những hữu thể có tương quan. Một ý thức sống động về tương quan này sẽ giúp chúng ta nhìn nhận và đối xử với người khác như là anh chị em thực sự của mình”,[36] kể cả những người nghèo và người di cư. Bằng cách này bức tranh về tình huynh đệ có thể được hình thành trong một thế giới đa dạng hơn.

Trong một bức thư đặc biệt Humana Communitas được công bố vào ngày 6 tháng 1 năm 2019 nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập Học viện Giáo hoàng về Sự sống, Đức Phanxicô xem việc xây dựng tình huynh đệ phổ quát được Phúc âm gieo trồng vào trong hầu hết các nhiệm vụ quan trọng của Giáo hội. Ngài nói: “Một lần nữa chúng ta phải đem tình huynh đệ này lên hàng đầu. Bởi vì cảm thấy bị bắt buộc sống chung với nhau là một chuyện, nhưng có điều gì đó hoàn toàn khác để đánh giá sự phong phú và vẻ đẹp của những hạt giống, cuộc sống chúng ta phải được tìm kiếm và cùng nhau vun trồng. Một mặt, cam chịu nhìn cuộc sống như một trận chiến chống lại những kẻ thù không bao giờ kết thúc; mặt khác đó là nhìn nhận gia đình nhân loại như dấu chỉ sức sống của Chúa Cha và lời hứa về một số phận chung được cứu chuộc bằng trọn vẹn tình yêu, mà cho đến giờ này, vẫn duy trì tồn tại”.[37] Vì mọi con đường của Giáo hội đều dẫn đến con người, như thánh Gioan Phaolô II đã viết trong thông điệp Redemptor hominis năm 1979,[38] nên cần phải tìm một một cái nhìn mới nằm thúc đẩy chủ nghĩa nhân văn về tình huynh đệ và liên đới giữa các cá nhân và mọi người. Theo quan điểm này, “sức mạnh của tình huynh đệ qua việc thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và sự thật nảy sinh giữa mọi người là biên giới mới của Kitô giáo”.[39]

1. Các chiều kích của tình huynh đệ

Đức Giáo hoàng Phanxicô cố gắng đề cập đến vấn đề xây dựng cái nhìn đúng đắn về tình huynh đệ, trong đó cộng đoàn Giáo hội không đối nghịch với xã hội. “Thay vì biện hộ cho bản thân, Giáo hội cung cấp các nguồn lực tinh thần cụ thể để qua đó xã hội của chúng ta, có thể chống lại các cuộc khủng hoảng đang làm xáo trộn họ”.[40]

1.1 Chiều kích gia đình

Một nơi quan trọng để học hỏi tình huynh đệ, cuộc sống được chia sẻ trong sự đa dạng và phụ thuộc vào người khác chính là gia đình, nơi đó các mối quan hệ khác nhau – vợ chồng, cha mẹ, con cái và anh chị em – đưa con người đến với những gì họ trải nghiệm trong một gia đình rộng lớn.[41] Vì “Gia đình là nơi đầu tiên các giá trị của tình yêu thương và huynh đệ, chung sống và sẻ chia, quan tâm và chăm sóc người khác được sống và truyền thụ lại”.[42] Trong tông huấn Amoris Laetitia, trích từ một bài giáo lý của ngài, Đức Phanxicô nói: “Trong gia đình, giữa anh chị em với nhau, người ta học được cách chung sống với nhau, cách con người phải sống giữa xã hội. Có lẽ không phải lúc nào chúng ta cũng nhận thức được điều này, nhưng chính gia đình đã đưa tình huynh đệ vào thế giới. Bắt đầu từ kinh nghiệm đầu tiên về tình huynh đệ, được nuôi dưỡng bằng tình cảm và giáo dục tại gia, phong cách huynh đệ rạng rỡ như một lời hứa trên toàn thể xã hội và về mối tương quan giữa các dân tộc”.[43]

1.2 Chiều kích xã hội giữa các quốc gia

Cách dễ thấy nhất, mối tương quan huynh đệ giữa con người và các quốc gia đang bị lung lay bởi kinh nghiệm chiến tranh, vốn dựa trên sự thờ ơ và thù địch, đang lây lan bởi việc phát triển vũ khí, bao gồm vũ khí hạt nhân và hóa học. Các hiệp ước quốc tế không phải là phương thuốc duy nhất cho điều này, nhưng cũng cần phải xây dựng một xã hội dân sự, bên trong đó có sự hoán cải của những tâm hồn: “Một sự hoán cải của con tim là rất cần thiết vốn cho phép mỗi người nhận ra nơi người khác người anh chị em của mình để chăm sóc và cùng làm việc với nhau để xây dựng một cuộc sống tròn đầy hơn cho tất cả mọi người”.[44]

Theo Đức Phanxicô, các hình thức khác của việc giải trừ tình huynh đệ trong khía cạnh xã hội bao gồm, tham nhũng, tội phạm có tổ chức và các hình thức tội lỗi xã hội khác nhau, đang gọi sự báo ứng từ trời, chẳng hạn như: thảm kịch ma túy, tàn phá môi trường tự nhiên, đầu cơ tài chính, mại dâm, buôn người và nô lệ. Do đó, nhiệm vụ xây dựng tình huynh đệ phổ quát là đặc biệt cần thiết. “Ngày nay sự thờ ơ của toàn cầu hóa đang tạo gánh nặng cho cuộc sống của rất nhiều anh chị em của chúng ta, điều đó đòi hỏi chúng ta phải xây dựng tình liên đới và huynh đệ mới trên toàn thế giới, để có thể đem đến cho họ niềm hy vọng mới và giúp họ tiến lên với lòng can đảm giữa những vấn đề của thời đại chúng ta, và tầm nhìn mới điều họ tỏ lộ và điều mà Thiên Chúa đặt trong tay chúng ta”.[45] Do đó, “toàn cầu hóa tình huynh đệ” thì đối lập với “toàn cầu hóa dững dưng”. Để chống lại những điều này cần phải “dệt nên một tấm vải của tình huynh đệ mới”, là nét đặc trưng cho sự tồn tại của cộng đoàn Kitô giáo tiên khởi. Tình huynh đệ được đặt nền trên ơn sủng của Chúa Giêsu có thể giúp xây dựng các cộng đoàn đích thực bên trong Giáo hội và giữa các cộng đoàn.[46]

Đức Phanxicô còn nhắc đến khái niệm công lý truyền thống, vốn chỉ đề cập trong việc phân phát của cải, phải được mở rộng để bao gồm vấn đề về các khía cạnh đạo đức của công việc và sản xuất hàng hóa đó. “Đó là lý do tại sao Học thuyết Xã hội của Giáo hội kiên quyết mời gọi chúng ta tìm cách áp dụng, thực hành, tình huynh đệ như nguyên tắc quản lý chính yếu đối với trật tự kinh tế. Trong khi các luồng tư tưởng khác chỉ nói về sự liên đới, Học thuyết Xã hội của Giáo hội nói về tình huynh đệ, bởi vì tình huynh đệ xã hội cũng là biểu mẫu cho sự liên đới, trong khi sự trái ngược thì không phải lúc nào cũng vậy, điều đó đã được kinh nghiệm chứng minh”.[47] Tình liên đới bảo đảm sự bình đẳng cho những người không có được sự bình đẳng trong xã hội, trong khi “tình huynh đệ cho phép bình đẳng để trở thành những người khác nhau. Tình huynh đệ cho phép mọi người bình đẳng về bản chất, phẩm giá, tự do và các quyền cơ bản để tham gia một cách khác nhau vào công ích chung, tùy theo khả năng của họ, chương trình sống của họ, ơn gọi của họ, công việc của họ hay việc đặc sủng phục vụ của họ”.[48] Sự cân bằng này có thể đạt được nhờ việc tham gia xã hội, đó là cách đi đúng đắn khi đối mặt với những cực đoan của chủ nghĩa tân tự do và tân chủ nghĩa kinh tế nhà nước. Sự liên đới và đùm bọc tự nó không mang lại hạnh phúc trong xã hội; chúng phải được bồi đắp bởi tình huynh đệ, để qua đó có thể nhìn thấy được cuộc sống con người với toàn thể những nhu cầu cần thiết và nhân phẩm của mình.

1.3 Chiều kích Kitô giáo

Việc Chúa Giêsu đến thế gian giúp chúng ta có thể khám phá được bản chất tồn tại của nhân loại. “Nếu không có tình huynh đệ mà Chúa Giêsu đã ban tặng cho chúng ta, những nỗ lực của chúng ta vì một thế giới công bằng hơn sẽ trở nên thiếu sót, và thậm chí những kế hoạch và dự định tốt nhất của chúng ta có nguy cơ trở nên vô hồn và trống rỗng”.[49] Theo Diego Fares, Đức Phanxicô ám chỉ đến đoạn Tin mừng: “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40) – đặt tình huynh đệ giữa sự nhập thể và phán xét sau cùng. Tình huynh đệ đặt chúng ta vào hiện tại, nối dài việc nhập thể của Chúa Kitô và sứ mạng của Ngài giữa lòng thế giới,[50] nhưng nó cũng là cảm nếm trước sự phán xét sẽ xảy đến trong tương lai. Mọi mối quan hệ con người, từ gia đình và hôn nhân đến các mối quan hệ cha mẹ và con cái được bổ trợ bằng mối tương quan huynh đệ, bởi vì nó đóng ấn cho họ bằng dấu ấn của tình yêu. Nếu Chúa Cha là Đấng duy nhất ngự trên trời và Chúa Kitô là Chàng rể duy nhất, thì tất cả mọi người được kêu mời đến với ơn gọi này đều có thể trở thành anh chị em với nhau (x. Ga 3, 25-28).

2. Những đe dọa về tình huynh đệ

Những dự đoán về tương lai qua các văn kiện của Công đồng Vatican II và các nguyên nhân đối với sự suy thoái của nhân loại được Đức Phanxicô trình bày trong thông điệp Laudato Sì năm 2015, trong đó ngài đã cho thấy việc phá vỡ các mối quan hệ của con người với thế giới tự nhiên sẽ dẫn đến hậu quả thế nào.[51] Kết quả là thái độ kiêu căng của người tiêu dùng và người khai thác, tất cả đều xa lạ với thái độ của Kitô giáo.[52] Ngay từ trang đầu tiên, Thánh Kinh đã mạc khải hậu quả tàn khốc của việc thiếu quan tâm đến người lân cận, điều này đặc biệt rõ ràng trong câu chuyện của Cain và Abel. Nếu mọi thứ trên thế giới được nối kết với nhau thì bất kỳ biểu hiện nào của việc thiếu liên đới và quan tâm là một đòn giáng mạnh vào nhân phẩm và tự do của con người. Việc thiếu hòa hợp với thế giới được tạo thành, sự tàn nhẫn với các thụ tạo khác và mối tương quan đầy rối loạn với người khác là trái nghịch với nhân phẩm của con người. Đó là lý do tại sao Đức Phanxicô coi nỗi sợ hãi như một trong những mối đe dọa chính yếu cho tình huynh đệ. Tại sao Cain giết Abel? Là vì sợ hãi. "Tình huynh đệ gặp khủng hoảng không phải vì ý thích hay vì lòng ích kỷ chung chung; thậm chí không phải vì ghen tị hay bất công […] Nỗi sợ đó là sợ người kia sẽ chiếm vị trí của chúng ta trong trái tim của Chúa Cha chúng ta, người kia là kẻ thù có thể phá hủy hạnh phúc của chúng ta, nó bao gồm cảm giác được yêu thương; gốc rễ của nỗi sợ hãi này là sự ngờ vực, thiếu tin tưởng vào tình yêu tuyệt vời của Thiên Chúa, vào Đấng mà con người không còn tin tưởng nữa”.[53]

Các mối đe dọa khác đối với tình huynh đệ là kết quả của thái độ ích kỷ cá nhân và các nhóm xã hội. Sự ngờ vực, tư lợi, tranh đua gay gắt và bạo lực bộc lộ sự chia rẽ ngày càng gia tăng, cũng như trong mối quan hệ giữa người với người và với môi trường trong lịch sử của trái đất và giữa những dân tộc khác nhau trên thế giới. Điều này tạo ra một nền văn hóa loại trừ, đặc trưng bởi sự thờ ơ với cộng đồng, tạo nên sự thù địch giữa con người, và xây dựng các liên minh chỉ dựa trên bạo lực tiền bạc. Đức Phanxicô cũng nhận thấy một nghịch lý nhất định của sự phát triển méo mó này: mặc dù nguồn lực kinh tế và công nghệ của thế giới ngày nay cho phép quan tâm nhiều hơn đối với gia đình nhân loại, nhưng chúng cũng đang gây ra nhiều chia rẽ và suy thoái. Thái độ của chủ thuyết hư vô, tham lam tìm kiếm thú vui và chủ nghĩa tiêu dùng đã thu hẹp cơ hội sống chung của con người.[54]

3. Hướng tới tình huynh đệ phổ quát

Tình huynh đệ phổ quát là một điều cần phải chinh phục. Với nhãn quan Kitô giáo, chúng ta có thể xác tín rằng điều này có thể thực hiện được, vì trước hết đó quà tặng của Thiên Chúa và còn là một đề nghị được khởi xướng từ trong sâu thẳm của tâm hồn con người, được Thiên Chúa là tình yêu và hiệp thông, suối nguồn của tình huynh đệ nhân loại tạo ra và cứu chuộc. Như Công đồng Vatican II đã nói: “Khi công bố ơn gọi cao cả của con người và khẳng định là hạt giống thần linh đã được gieo vào trong con người, Công đồng muốn dành cho nhân loại sự cộng tác chân thành của Giáo hội nhằm thiết lập tình huynh đệ đại đồng phù hợp với ơn gọi ấy. Không do một tham vọng trần thế nào thúc đẩy, Giáo hội chỉ nhắm một mục tiêu duy nhất, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, là tiếp tục công trình của chính Chúa Kitô, Đấng đã đến thế gian để làm chứng cho chân lý, để cứu rỗi chứ không để luận phạt, để phục vụ chứ không để được phục vụ”.[55] Và bổn phận của mỗi tín hữu và của các Giáo hội địa phương là “giúp đỡ mọi người thời nay, hoặc tin Thiên Chúa hoặc không minh nhiên nhìn nhận Ngài, nhận thức rõ ràng hơn thiên chức toàn diện của mình, kiến tạo thế giới cho hợp với phẩm giá siêu việt của con người hơn, tìm kiếm một tình huynh đệ đại đồng được thiết lập vững chắc hơn và đáp lại những đòi hỏi khẩn thiết trong thời đại chúng ta theo như tình yêu thúc đẩy trong một nỗ lực hợp tác quảng đại”.[56] Ngoài ra “mỗi ngày mỗi củng cố thêm khả năng làm chủ vạn vật, mà còn phải thiết lập một trật tự chính trị, xã hội và kinh tế để phục vụ con người ngày càng đắc lực hơn, giúp mỗi cá nhân, mỗi tập thể khẳng định và thăng tiến phẩm giá riêng của mình”.[57]

3.1 Trở về với nền tảng tối hậu của nhân loại

Hướng tới hành trình xây dựng tình huynh đệ phổ quát cách hiệu quả, Đức Giáo hoàng mời gọi chúng ta trở về với nền tảng tối hậu của nhân loại: “Tình huynh đệ này sẽ không sao có được nếu không quy chiếu về người Cha chung như là nền tảng tối hậu.[58] Thật vậy, “là tín hữu, chúng ta tin rằng: nếu không hướng về Chúa, là Cha của mọi người, thì sẽ không có lý do khả tín và vững chắc nào để mời gọi con người sống tình huynh đệ”.[59]

Tình huynh đệ đích thực tự nó là một kinh nghiệm về Thiên Chúa, theo tuyên bố của Thánh Bônaventura, được Đức Giáo hoàng trích dẫn trong Thông điệp Laudato Sì, rằng con người nên nhận ra Đấng Tạo Hóa nơi các thụ tạo khác. Đó là lý do tại sao khi được hỏi liệu con người có thể tự mình thỏa mãn ước muốn tình huynh đệ, vượt qua hận thù, ích kỷ và khác biệt hay không? Đức Phanxicô trả lời rằng điều đó có thể xảy ra, nhưng chỉ trong phạm vi chấp nhận tình phụ tử của Thiên Chúa. “Đó là một tình phụ tử làm phát sinh ra tình huynh đệ, vì tình yêu của Thiên Chúa, khi được đón nhận, sẽ trở thành phương tiện có sức mạnh mẽ nhất làm biến đổi sự hiện hữu và tương quan với người khác, giúp con người mở ra với sự liên đới và sự sẻ chia tích cực”.[60]

Điều này có thể được thực hiện nhờ thập giá của Chúa Giêsu Kitô. Thập giá là "địa điểm" dứt khoát cho nền tảng của tình huynh đệ, điều mà con người không thể tự mình tạo ra. “Chúa Kitô đã đổ máu mình ra cho mọi người và cho từng người, vì thế, không ai ở ngoài tình yêu phổ quát của Ngài. Và nếu chúng ta đi đến tận nguồn tình yêu đó, nghĩa là đi vào đời sống thâm sâu thân mật của Thiên Chúa, chúng ta sẽ thấy một cộng đồng Ba Ngôi, là nguồn gốc và mẫu mực hoàn hảo của mọi đời sống cộng đồng”.[61]

3.2 Xây dựng một lối sống mang hương vị Tin mừng

Lời đề nghị này được đặt ngay số đầu tiên của Thông điệp như chìa khóa hành động để vượt qua "bóng tối của một thế giới khép kín và xung đột", để có thể phát triển một cộng đồng thế giới hướng đến sự hiệp nhất. Đây cũng là nhiệm vụ của Giáo hội và mọi Kitô hữu trong việc thúc đẩy sự thăng tiến của con người và của tình huynh đệ phổ quát. Tuy nhiên, trước hết, nó đòi hỏi mỗi người luôn ý thức rằng tất cả đều chung một Cha trên trời và tất cả là một phần trong kế hoạch cứu độ phổ quát của Chúa Kitô. Tiếp đến, nó đòi hỏi mỗi người tín hữu đặt nền tảng mọi hành động của mình nơi Chúa Kitô, là suối nguồn của sự sống, hiệp nhất và tình huynh đệ con người, từ đó dẫn tới một “cuộc cách mạng của sự dịu dàng” để khám phá ra khuôn mặt của Chúa Kitô nơi người khác, khám phá tiếng nói của Ngài và những đòi hỏi, để “học chịu đau khổ trong việc ôm ấp thập giá Chúa Giêsu chịu đóng đinh mỗi khi chúng ta bị chống đối một cách bất công hay gặp phải sự vô ơn, không bao giờ mệt mỏi vì lựa chọn sống trong tình huynh đệ".[62] Và điều đó sẽ thực hiện được nơi “đức ái do Thiên Chúa phú ban”[63]. Với đức ái này chúng ta sẽ tìm kiếm điều tốt đẹp nhất cho cuộc sống của người khác, vượt lên trên mọi tư duy cá nhân chủ nghĩa, vượt khỏi các rào cản địa lý và không gian, với tinh thần vô vị lợi, cởi mở, đối thoại, tha thứ, yêu thương, cho phép nhìn nhận, tôn trọng phẩm giá, bản sắc, văn hóa của mỗi người, dù về mặt thể lý họ không ở gần, hay dù cho họ sinh ra hay sống ở đâu đi chăng nữa.

3.2.1 Tinh thần vô vị lợi

Tinh thần vô vị lợi là khả năng làm điều gì đó chỉ vì tự thân điều ấy là tốt không mong nhận được sự đáp đền.[64] Tinh thần vô vị lợi được Đức Giáo hoàng Phanxicô nêu ra trong thông điệp mang cả hai chiều kích chính trị và tôn giáo. Cần có tinh thần vô vị lợi, bởi vì nó “khiến chúng ta có thể đón tiếp người xa lạ, ngay cả khi điều này không đem lại cho chúng ta lợi ích cụ thể nào. Thực tế, một số quốc gia chỉ muốn đón nhận các nhà khoa học hoặc các nhà đầu tư mà thôi”.[65] Cho nên “chỉ có nền văn hóa xã hội và chính trị nào sẵn sàng đón tiếp người khác một cách vô vị lợi mới có tương lai”.[66] Và ngài tuyên bố: “Ai không sống tình huynh đệ vô vị lợi thì cuộc sống người ấy sẽ biến thành cuộc mua bán đổi chác nhọc nhằn, luôn cân đo đong đếm điều mình cho đi và nhận lại. […] Chúng ta đón nhận sự sống cách nhưng không, chúng ta đã không phải trả giá nào cho sự sống cả. Do đó, tất cả chúng ta có thể cho đi mà không mong được đền đáp bất cứ điều gì, làm điều tốt lành cho người khác mà không đòi hỏi họ phải đáp lại bằng cách đối xử tốt với mình. Như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8).[67]

3.2.2 Phục vụ, nghệ thuật hòa bình

Tinh thần phục vụ lẫn nhau không hề xa lạ đối với Kitô giáo, bởi vì đó là lệnh truyền của Chúa Giêsu (Ga 15,9-15; 13, 14). Khi thực hiện công việc này với đức ái tức là chúng ta đang chăm sóc cho ngôi nhà chung của chúng ta, trong đó bao gồm việc “chăm sóc những thành viên yếu kém của gia đình chúng ta, xã hội chúng ta, dân tộc chúng ta”.[68]

Theo Đức Giáo hoàng, việc phục vụ cho tha nhân trong xã hội cũng giống như sự quan tâm phục vụ trong gia đình: “Nếu có người gặp khó khăn, kể cả khó khăn nghiêm trọng, mặc dù do chính người ấy gây ra, thì những người khác trong gia đình sẽ đến trợ giúp và nâng đỡ người ấy; nỗi đau của người ấy được cả gia đình chia sẻ”... Trong các gia đình, “họ có thể cãi nhau, nhưng vẫn có điều gì đó không thay đổi: đó là mối dây ràng buộc gia đình. Những cãi vã trong gia đình rồi cũng sẽ được hòa giải. Niềm vui nỗi buồn của mỗi người được cả nhà chia sẻ”.[69]

Ngoài ra phục vụ người khác còn là “nghệ thuật hòa bình”. Người ta có thể đạt được hòa giải thật sự một cách chủ động, “bằng cách kiến tạo một xã hội mới dựa trên việc phục vụ người khác hơn là mong muốn thống trị; một xã hội dựa trên việc chia sẻ với người khác những gì mình có hơn là mỗi người cứ ích kỷ tranh giành càng nhiều của cải càng tốt”.[70] Vì vậy, mỗi người đều đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng hòa bình và cổ võ tình huynh đệ bằng tinh thần phục vụ. Qua việc phục vụ con người sẽ nhận thấy được hình ảnh của Chúa Kitô nơi tha nhân, khi nhìn vào khuôn mặt của những người đau khổ, chạm vào da thịt của họ, cảm nhận gần gũi họ đến mức, đôi khi, phải chịu lấy “nỗi đau” của họ.[71]

3.2.3 Gặp gỡ và đối thoại

Để hiểu nhau và để có thể giúp đỡ lẫn nhau chúng ta cần gặp gỡ và đối thoại, từ đó có thể xây dựng một gia đình, một xã hội, một dân tộc có khả năng hòa hợp giữa những khác biệt. Nếu không có gặp gỡ và đối thoại ắt hẳn mỗi người vẫn là một ốc đảo; xung đột, bất đồng và áp đặt sẽ không bao giờ chấm dứt. Đối thoại khác với "thương lượng, ở đó ai nấy cố gắng giành cho được tối đa quyền lực và chiếm hữu càng nhiều lợi ích càng tốt, chẳng bận tâm hợp tác để mưu cầu công ích".[72] Đối thoại không giống như "trao đổi ý kiến trên mạng xã hội, thường bị định hướng bởi những phương tiện truyền thông đại chúng với các thông tin không phải lúc nào cũng đáng tin cậy".[73] Đức Giáo hoàng gọi đây là cuộc "độc thoại song đôi". Đối thoại xã hội đích thực "giả thiết khả năng tôn trọng quan điểm của người khác, chấp nhận rằng quan điểm ấy chứa đựng những xác tín hoặc mối quan tâm chính đáng",[74] cùng nhau hướng đến một sự thật nhất định trong sự cởi mở, thẳng thắn, chân thành và kiên nhẫn. Đối thoại chính là con đường thích hợp nhất dẫn đến việc nhận ra những gì phải luôn được khẳng định và tôn trọng.

3.2.4 Hòa giải và tha thứ

Giá trị và ý nghĩa của sự hòa giải và tha thứ là những chủ đề có tầm quan trọng trong lịch sử Kitô giáo. Hòa giải không phải là chủ nghĩa đồng nhất hay hòa tan mà nhắm đến một giải pháp ở bình diện cao hơn, là cùng nhau xây dựng hòa bình huynh đệ.[75]

Hòa giải đi kèm với tha thứ. Tha thứ để kiến tạo hòa bình. Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải tha thứ thật nhiều “đến bảy mươi lần bảy” và Ngài cũng công khai lên án việc dùng vũ lực để áp đặt mình lên người khác.[76] Tha thứ không có nghĩa là từ bỏ quyền lợi của bản thân, để mặc người khác xúc phạm đến phẩm giá của mình. Tha thứ là một hành động yêu thương, không loại trừ. “Nhưng yêu thương một kẻ áp bức không có nghĩa là chấp nhận cho kẻ ấy tiếp tục áp bức mình, cũng không phải là khiến cho kẻ ấy tưởng rằng hành động của y là có thể chấp nhận được. Trái lại, yêu thương kẻ áp bức một cách đúng nghĩa là phải làm sao cho kẻ ấy chấm dứt hành vi áp bức, là tước bỏ quyền lực mà kẻ ấy đã không biết cách sử dụng và làm cho nhân tính của y ra méo mó”.[77]

Tha thứ không có nghĩa là quên đi[78] nhưng là quyết định không để cho mình bị tiêm nhiễm sức mạnh báo thù, mà sớm muộn gì nó cũng sẽ quay lại làm hại chính mình.[79] “Tha thứ cách tự do và chân thành là một hành vi cao quý, phản ánh lòng tha thứ vô biên của Thiên Chúa. Nếu tha thứ có tính nhưng không, thì chúng ta có thể tha thứ cả cho những ai không hề hối lỗi và không có khả năng xin tha thứ”[80].

4. Không ai được cứu một mình

Chúng ta đang phải đối diện với nhiều thử thách rất phức tạp trong cơn đại dịch đang diễn ra trên quê hương Việt Nam. Đại dịch cho chúng ta thấy được mặt trái của xã hội loài người khi tin rằng chúng ta là trung tâm, ước muốn chiếm lấy vị trí của Thiên Chúa[81]. Những ảo tưởng của nhân loại đã phá vỡ sự hòa hợp, làm cho cuộc sống bị vây hãm bởi những khó khăn, ngờ vực, chia rẽ, chán chường và trống rỗng. Thay vì chúng ta thuộc về nhau như anh em rốt cuộc tất cả lại trở thành thù địch, và điều này còn tệ hại hơn bất cứ cơn đại dịch nào.[82] Đại dịch cũng cho chúng ta nhận ra rằng chúng ta đang ở trên cùng một chiếc thuyền, tất cả đều mong manh và mất phương hướng, nhưng đồng thời cũng quan trọng và cần thiết, tất cả được mời gọi cùng nhau chèo chống, mọi người cần an ủi lẫn nhau. [83]

Trong bối cảnh xây dựng một cộng đồng nhân loại, thời gian đại dịch không chỉ cho thấy sự mong manh và yếu đuối của cuộc sống con người, mà còn cho thấy những hành vi cá nhân và tập thể có tác động lớn đến đời sống xã hội. Qua đó chúng ta nhận ra rằng cuộc sống dành cho người khác cần thiết cho cuộc sống của chúng ta như thế nào. Đó là lý do tại sao Đức Giáo hoàng Phanxicô khẳng định : “Không ai được cứu một mình, hoặc chúng ta được cứu tất cả hoặc không ai được cứu”.[84] Điều này không chỉ nói lên mối tương quan nối kết nhau mà còn là một sự chọn lựa có ý thức về con đường nhất định mà con người sẽ vận hành. Và chắc chắn một điều cuộc khủng hoảng hiện nay có thể được khắc phục bằng các kháng thể của tình huynh đệ. “Ước gì chúng ta tái khám phá và vĩnh viễn nhận biết rằng chúng ta cần đến nhau, chúng ta mắc nợ lẫn nhau để nhờ đó, gia đình nhân loại được tái sinh, với mọi khuôn mặt, mọi bàn tay và mọi tiếng nói, vượt khỏi các bức tường biên giới mà chúng ta đã dựng nên.[85]

KẾT LUẬN

Chủ đề tình huynh đệ phổ quát mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đang cố gắng khởi xướng nhằm chống lại chủ nghĩa “toàn cầu hóa của sự dững dưng, vô cảm” bằng “toàn cầu hóa của tình huynh đệ”, mang lại nhiều hy vọng lớn lao cho nhân loại. Toàn cầu hóa tình huynh đệ chính là “kháng thể” mạnh mẽ và hiệu quả nhất mà Đức Phanxicô đề nghị để vượt qua mọi rào cản, đem lại công bằng, lợi ích cho toàn xã hội và đặc biệt cho những người nghèo nhất. Kháng thể đó được đan dệt bằng hương vị của tình yêu phát xuất sự hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa, từ thập giá của Chúa Kitô. Tình yêu chiếm vị trí hàng đầu và tình yêu, thứ được nên khả thể nhờ ân sủng của Thiên Chúa, là một chuyển động tập chú đến người khác, xem người khác là một với chính mình. Chỉ khi vun trồng tình yêu này chúng ta mới có thể tạo được tình bằng hữu xã hội không loại trừ và tình huynh đệ mở ra cho hết mọi người. Đây cũng chính là ơn gọi và mục tiêu của cuộc sống chúng ta.

Ut Unum Sint




[1] Xem GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti, từ số 11 đến số 29.
[2] Sđd, số 30
[3] Sđd, số 8
[4] Sđd, số 1
[5] Sđd, số 8
[6] Là một nhà sử học, lính đánh thuê người Hy Lạp và là học trò của Socrates.
[7] Xem JOSHEP RATZINGER, “Tình huynh đệ Kitô giáo”, Cef. 1962, trang 32–39.
[8] Sđd
[9] Sđd, trang 52
[10] Sđd, trang 50-55
[11] Xem CARDINAL JOSEPH RATZINGER, Meaning of christian brotherhood, Ignatius, trang 55–57.
[12] WOJCIECH KUĆKO, Fraternity in the Teaching of Pope Francis, Collectanea theologica, trang 707.
[13] Xem CARDINAL JOSEPH RATZINGER, Meaning of christian brotherhood, Ignatius, trang 57
[14] CĐ VATICAN II, Gaudium et spes, số 92.
[15] x. CĐ VATICAN II, Lumen Gentium, số 28.
[16] x. CĐ VATICAN II, Apostolicam Actuositatem, số 23.
[17] CĐ VATICAN II, Lumen Gentium, số 28
[18] CĐ VATICAN II, Lumen Gentium số 28; x. Presbyterorum ordinis, số 8.
[19] CĐ VATICAN II, Nostra Aetate, số 5
[20] CĐ VATICAN II, Unitatis redintegratio, số 11.
[21] GIÁO HOÀNG PHAOLÔ VI, Tiếp kiến chung, Thứ bảy,13/7/1963, https://www.vatican.va/content/paul-vi/it/audiences/1963/documents/hf_p-vi_aud_19630713.html
[22] https://www.vatican.va/content/paul-vi/it/speeches/1964/documents/hf_p-vi_spe_19641222_radiomessaggio-natale.html
[23] x. RENATO MARANGONI, La Chiesa Mistero Di Comunione, Gregorian & Biblical Press (January 1, 2001), trang 196-199.
[24] GIÁO HOÀNG PHAOLÔ VI, Thông điệp Populorum progressiveio, số 44
[25] https://www.vatican.va/content/paul-vi/en/messages/peace/documents/hf_p-vi_mes_19701114_iv-world-day-for-peace.html
[26] https://www.vatican.va/content/john-paul-ii/it/letters/1982/documents/hf_jp-ii_let_19821120_cardinale-casaroli.html
[27] WOJCIECH KUĆKO, Fraternity in the Teaching of Pope Francis, Collectanea theologica, trang 712
[28] GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông điệp Caritas in veritate, số 38
[29] GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti, số 13
[30] GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông điệp Caritas in veritate, số 19
[31] https://www.vatican.va/content/benedict-xvi/en/speeches/2010/december/documents/hf_ben-xvi_spe_20101216_ambassadors.html
[32] WOJCIECH KUĆKO, Fraternity in the Teaching of Pope Francis, Collectanea theologica, trang 707
[33] GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti, số 5
[34]https://www.vatican.va/content/francesco/en/speeches/2013/march/documents/papa-francesco_20130313_benedizione-urbi-et-orbi.html
[35] GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Thông điệp Lumen Fidei, số 54
[36] GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Sứ điệp ngày Thế Giới Hòa Bình năm 2014, số 1.
[37] https://www.vatican.va/content/francesco/it/letters/2019/documents/papa-francesco_20190106_lettera-accademia-vita.html, số 6
[38] Sđd, số 7
[39] Sđd, số 13
[40] CHRISTOPH THEOBALD, Chủ nghĩa thần bí về tình huynh đệ, https://www.ideesocietacivile.it/cultura/mistica-della-fraternita-lo-stile-nuovo-della-chiesa-e-della-teologia-nei-documenti-programmatici-del-pontificato/10515/
[41] x. GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 66
[42] GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti, số 114
[43]https://www.vatican.va/content/francesco/it/audiences/2015/documents/papa-francesco_20150218_udienza-generale.html
[44] https://catechesis.net/su-diep-ngay-the-gioi-hoa-binh-cua-dgh-phanxico-nam-2014/
[45] Tư tưởng của ĐTC Phanxicô về "sự thờ ơ của toàn cầu hóa" đã xuất hiện trong Tông huấn Evangelii Gaudium (xem số 54). ĐTC giải thích như sau: "Thách thức lớn của thế giới chúng ta là toàn cầu hóa tình đoàn kết và tình huynh đệ thay cho toàn cầu hóa phân biệt đối xử và thờ ơ, và, cho đến khi có thể đạt được sự phân phối công bằng về của cải, sẽ không có giải pháp nào được tìm ra cho những tệ nạn của xã hội chúng ta".
[46] Đức Phanxicô lưu ý sự khác biệt lớn trong cuộc sống của mọi người trên thế giới: “50 người giàu nhất thế giới có khối tài sản tương đương 2,2 tỷ USD. 50 người đó có thể tài trợ cho việc chăm sóc y tế và giáo dục cho mọi trẻ em nghèo trên thế giới, có thể qua việc trả thuế, các sáng kiến từ thiện hoặc cả hai. 50 người đó có thể cứu sống hàng triệu người mỗi năm”. https://www.catholicculture.org/culture/library/view.cfm?recnum=12305
[47]https://www.vatican.va/content/francesco/en/messages/pont-messages/2017/documents/papa-francesco_20170424_messaggio-accademia-scienzesociali.html
[48] Sđd
[49]https://www.vatican.va/content/francesco/en/messages/urbi/documents/papa-francesco_20181225_urbi-et-orbi-natale.html
[50] Xem GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Evangelii Gaudium, số 197.
[51] x. GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Thông điệp Laudato Sì, từ số 66-70
[52] Nếu chúng ta tiếp cận thiên nhiên và môi trường mà không mở lòng cho sự thán phục và ngưỡng mộ, nếu chúng ta không còn nói ngôn ngữ của tình huynh đệ và vẻ đẹp trong các mối tương quan với thế giới nữa, thái độ của chúng ta sẽ là những người chủ, những người tiêu thụ, những người khai thác không biết mỏi mệt, không có giới hạn cho những nhu cầu tức thời của chúng ta. Trái lại, nếu chúng ta cảm thấy hiệp nhất cách gần gũi với tất cả mọi sự đang hiện hữu, sự điều độ và sự chăm sóc sẽ phát triển đồng thời (Laudato Sì số 11).
[53] https://www.osservatoreromano.va/it/news/2019-01/le-sfide-del-papa-e-il-coraggio-della-fraternita.html
[54] Xem GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Humana communitas, 2–3
[55] CĐ VATICAN II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 3
[56] Sđd số 91
[57] Sđd, số 9
[58] GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Thông điệp Lumen Fidei, số 54
[59] GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti, số 272
[60]https://www.vatican.va/content/francesco/en/messages/peace/documents/papa-francesco_20131208_messaggio-xlvii-giornata-mondiale-pace-2014.html
[61] GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti, số 85
[62] GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 91
[63] GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti, số 91
[64] Sđd, số 139
[65] Sđd, số 139
[66] Sđd, số 141
[67] Sđd, số 140
[68] Sđd, số 115
[69] Sđd, số 230
[70] Sđd, số 229
[71] Sđd, số 115
[72] Sđd, số 202
[73] Sđd, số 200
[74] Sđd, số 203
[75] Sđd, số 246
[76] Sđd, số 238
[77] Sđd, số 241
[78] Sđd, số 250
[79] Sđd, số 251
[80] Sđd, số 250
[81] https://gpquinhon.org/q/giao-huan-giao-hoang/giao-ly-ve-chua-lanh-the-gioi-7-cham-soc-ngoi-nha-chung-va-thai-do-chiem-ngam-3612.html
[82] GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Fratelli Tutti, số 36
[83] https://gpquinhon.org/q/giao-hoi/bai-chia-se-cua-duc-thanh-cha-phanxico-trong-gio-cau-nguyen-va-ban-phep-lanh-toan-xa-urbi-et-orbi-2953.html
[84] Xem GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, Fratelli Tutti, số 32; 54; 137
[85] Sđd, số 35
Mới hơn Cũ hơn