TUẦN I THƯỜNG NIÊN
CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA
Mc 3, 13-17
Sau khi được ông Gioan làm phép rửa, Đức Giêsu vừa lên khỏi nước, các tầng trời mở ra và có Thánh Thần tựa chim bồ câu ngự xuống trên Người và có tiếng Chúa Chúa Cha phán rằng: “ Con là con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1, 11). Là Con Một của Chúa Cha, Đức Giêsu luôn là con yêu dấu và luôn đẹp lòng Cha. Nhìn về biến cố Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Gio đan, chúng ta học được gì?
Đức Giêsu chính là Đấng mà Gioan tuyên bố rằng ông không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người (x. Mc 1,7). Nay Đấng ấy hòa mình vào đám tội nhân, khiêm tốn đứng xếp hàng, chờ đến lượt được chịu phép rửa. Khi xuống thế làm người, Đức Giêsu đã mặc lấy thân phận con người nhưng ngoại trừ tội lỗi. Vậy mà nay, Đấng ấy làm một việc đến cả Gioan cũng phải bối rối, không dám: “ Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa” (Mt 3, 14). Gioan đã chiều theo yêu cầu của Đức Giêsu. Gioan biết rõ Đấng nhờ mình làm phép rửa là ai, là Đấng mà ông đến để dọn đường trước. Nhìn về biến cố này, chúng ta được mời gọi nhìn về hồng ân làm con Chúa trong ngày chịu phép Rửa tội.
Gioan làm phép rửa để mời gọi người ta tỏ lòng sám hối. Ngày này, phép Rửa tội ta được lãnh nhận không chỉ kêu mời ta tỏ lòng sám hối mà còn tha hết tội lỗi ta phạm từ trước đến nay, tội tổ tông. Trong bài giáo lý về bí tích Rửa Tội được ban hành ngày 11 tháng 4 năm 2018, Đức Thánh Cha Phanxicô diễn giải, qua bí tích Rửa Tội, chúng ta nhận được ơn tha tội và được tái sinh vào cuộc sống mới và vĩnh cửu trong Đức Kitô; đây là bí tích đầu tiên trong các bí tích, vì nó như cánh cửa cho phép Đức Kitô cư ngụ nơi con người mình và cho mình được chìm ngập trong Mầu Nhiệm của Người. Ta cũng biết rằng, Chúa Thánh Thần là Đấng thánh hóa chúng ta, dẫn đưa chúng ta đến ơn làm con Chúa. Hơn nữa, bí tích Rửa Tội là “nền tảng của tất cả đời sống Kitô hữu” (Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, 1213).
Có thể, theo truyền thống bao đời, đa số chúng ta được bố mẹ đưa đến nhà thờ từ lúc còn rất nhỏ để chịu phép Rửa tội. Bởi đó, chúng ta chưa có cơ hội để ý thức đầy đủ về ý nghĩa và tầm quan trọng của ơn cao cả ta lãnh nhận. Nhưng bây giờ, khi đã lớn, được học hỏi, được dạy dỗ, được trải nghiệm, chúng ta nghĩ gì về bí tích Rủa tội? Thật ra, không phải là nghĩ gì về bí tích Rửa tội, nhưng đúng hơn, chúng ta đã sống bí tích đó như thế nào và chúng ta đã làm gì để xứng đáng là con cái Chúa? Đời sống của chúng ta có diễn tả một sự hiện diện đầy sống động của một Thiên Chúa làm người nơi cuộc sống của ta? Mọi người có nhận biết Thiên Chúa qua cách sống của ta? Thiết nghĩ, khi sống theo các giáo huấn của Đức Giêsu cách triệt để, ta sẽ có thể sống xứng đáng là con cái Chúa. Nhờ liên đới với Đức Giêsu Kitô, chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha. Hãy để Đức Giêsu Kitô sống trong ta, khi ấy, Thiên Chúa Cha sẽ nói với ta: “ Con là con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1, 11). Thiết nghĩ, đó cũng là cách ta sống trọn vẹn bí tích Rửa tội.
THỨ HAI - TUẦN I THƯỜNG NIÊN
(Mc 1,14–20)
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mác-cô.
Sau khi Gio-an bị bắt, Chúa Giê-su sang xứ Ga-li-lê-a, rao giảng Tin Mừng của nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng”.
Ðang lúc đi dọc theo bờ biển Ga-li-lê-a, Người thấy Si-mon và em là An-rê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giê-su bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức bỏ lưới, các ông theo Người. Ði xa hơn một chút nữa, Người thấy Gia-cô-bê con ông Giê-bê-đê và em là Gio-an đang xếp lưới trong thuyền, Người liền gọi các ông. Hai ông bỏ cha là Giê-bê-đê ở lại trên thuyền cùng với các người làm công, và đi theo Người.
Suy niệm
Tin Mừng hôm nay mở ra trong một bối cảnh vừa lặng lẽ vừa nghiêm trọng: “Sau khi ông Gio-an bị nộp.” Tiếng nói của vị ngôn sứ cuối cùng đã bị dập tắt; sự dữ dường như đang thắng thế; bóng tối tưởng chừng phủ xuống dòng lịch sử cứu độ. Nhưng chính trong thời khắc ấy, Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai của Người. Thiên Chúa không đợi khi mọi sự ổn định, khi con người cảm thấy an toàn, mới can thiệp. Trái lại, Người bước vào lịch sử đúng lúc con người mong manh nhất, để tỏ cho thấy rằng ơn cứu độ không tùy thuộc vào hoàn cảnh thuận lợi, mà vào tình yêu trung tín của Thiên Chúa.
Đức Giêsu đến miền Galilê và rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Lời rao giảng đầu tiên của Người được Tin Mừng theo Tin Mừng theo thánh Mác-cô ghi lại cách ngắn gọn nhưng đầy đủ chiều sâu thần học:
“Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”
Đây không phải là một lời đe dọa, nhưng là một lời loan báo đầy hy vọng. “Thời kỳ đã mãn” nghĩa là thời gian chờ đợi đã kết thúc, những lời hứa của Thiên Chúa nay đã đến hồi viên mãn. Triều Đại Thiên Chúa không còn là điều xa vời, nhưng đã ở rất gần, thậm chí đang hiện diện giữa con người. Tuy nhiên, để bước vào Triều Đại ấy, con người được mời gọi sám hối – nghĩa là quay lại, đổi hướng, thay đổi lối nhìn – và tin vào Tin Mừng, không chỉ bằng trí óc, mà bằng cả cuộc sống.
Ngay sau lời rao giảng ấy, Đức Giêsu không tìm đến những trung tâm quyền lực hay tri thức, không đến với các kinh sư hay giới lãnh đạo tôn giáo, nhưng đi dọc theo bờ biển hồ Galilê, nơi những con người bình thường đang miệt mài với công việc hằng ngày. Người gặp Simôn và Anrê đang quăng lưới, và Người nói với họ một lời thật đơn sơ:
“Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá.”
Không có lời hứa về danh vọng, không có chương trình chi tiết cho tương lai. Chỉ có một lời mời gọi đặt nền trên mối tương quan: “hãy theo tôi.” Điều làm nên sự mới mẻ không phải là công việc sẽ làm, mà là con người sẽ đi theo – chính Đức Giêsu.
Phản ứng của hai ông thật đáng chú ý: “Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà theo Người.” Sự “lập tức” ấy không phải là bốc đồng hay thiếu suy nghĩ, nhưng là dấu chỉ của một con tim đã sẵn sàng. Khi tiếng gọi vang lên, các ông nhận ra rằng có một điều quý giá hơn cả nghề nghiệp, hơn cả sự ổn định quen thuộc: được ở với Đức Giêsu và bước đi cùng Người.
Đức Giêsu tiếp tục đi xa hơn và gọi Giacôbê và Gioan, những người đang vá lưới trong thuyền. Tin Mừng thêm một chi tiết mạnh mẽ: “Các ông bỏ cha mình là ông Dê-bê-đê ở lại trên thuyền với những người làm công, mà đi theo Người.” Theo Chúa không chỉ là bỏ một công việc, mà đôi khi là chấp nhận những từ bỏ rất cụ thể, rất đau đớn. Không phải vì coi nhẹ gia đình hay trách nhiệm, nhưng vì đặt Thiên Chúa ở vị trí ưu tiên tuyệt đối. Mỗi ơn gọi đều hàm chứa một cuộc “ra đi” – ra khỏi những bảo đảm cũ, để bước vào một hành trình mới với Chúa.
Tin Mừng hôm nay không chỉ kể lại một biến cố đã qua, nhưng đặt ra một câu hỏi cho mỗi người chúng ta. Lời mời gọi “Hãy theo tôi” vẫn đang vang lên giữa đời sống thường ngày: trong công việc, trong gia đình, trong bậc sống riêng của mỗi người. Có thể chúng ta không được mời bỏ lưới theo nghĩa vật chất, nhưng được mời buông bỏ những ràng buộc đang giam giữ con tim, những thói quen, những chọn lựa ích kỷ, để sống Tin Mừng cách tự do và trọn vẹn hơn.
Sau cùng, Tin Mừng hôm nay không hỏi chúng ta đã làm được gì cho Chúa, nhưng hỏi điều căn bản hơn: chúng ta có sẵn sàng để Chúa bước vào đời mình và làm thay đổi hướng đi của chúng ta hay không? Bởi vì theo Chúa không phải là thêm một điều gì vào đời sống cũ, mà là để cho chính Chúa trở thành trung tâm, và từ đó, mọi sự khác được sắp xếp lại dưới ánh sáng của Tin Mừng.
THỨ BA - TUẦN I THƯỜNG NIÊN
1Sm 1,9-20; Mc 1,21-28
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Mác-cô.
(Ðến thành Ca-phác-na-um), ngày nghỉ lễ, Chúa Giê-su vào giảng dạy trong hội đường. Người ta kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy người ta như Ðấng có uy quyền, chứ không như các luật sĩ.
Ðang lúc đó, trong hội đường có một người bị thần ô uế ám, nên thét lên rằng: “Hỡi Giê-su Na-da-rét, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai: là Ðấng Thánh của Thiên Chúa”. Chúa Giê-su quát bảo nó rằng: “Hãy im đi, và ra khỏi người này!” Thần ô uế liền dằn vật người ấy, thét lên một tiếng lớn, rồi xuất khỏi người ấy. Mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: “Cái chi vậy? Ðây là một giáo lý mới ư? Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả các thần ô uế, và chúng vâng lệnh Người”. Danh tiếng Người liền đồn ra khắp mọi nơi, và lan tràn khắp vùng lân cận xứ Ga-li-lê-a.
Suy niệm
Trong kinh nghiệm sống của con người, một trong những niềm vui lớn nhất chính là khi ta gặp phải một hoàn cảnh nan giải, vượt quá khả năng của mình, mà lại được ai đó ra tay giúp đỡ và giải quyết cách tốt đẹp. Khi ấy, niềm vui không chỉ đến từ kết quả, mà còn từ cảm nghiệm được yêu thương, được quan tâm và không bị bỏ rơi.
Các bài đọc hôm nay đặt trước mắt chúng ta hai hoàn cảnh như thế: nỗi đau hiếm muộn của bà Anna trong sách Sa-mu-en, và tình trạng khốn cùng của người bị quỷ ám trong Tin Mừng. Đó đều là những nỗi bất hạnh khiến con người bó tay, không tự mình giải quyết nổi. Không con cái, đối với bà Anna, không chỉ là nỗi đau cá nhân, mà còn là sự nhục nhã xã hội và mặc cảm tôn giáo. Bị quỷ ám, đối với người đàn ông trong hội đường Ca-phác-na-um, là tình trạng mất tự do nội tâm, bị sự dữ chiếm đoạt và làm chủ.
Thế nhưng, cả hai câu chuyện đều kết thúc trong niềm vui và sự giải phóng. Thiên Chúa đã nhậm lời bà Anna, cho bà sinh hạ một người con là Sa-mu-en. Đức Giêsu đã trừ quỷ, giải thoát con người khỏi quyền lực của sự dữ, trước sự kinh ngạc của mọi người hiện diện. Những biến cố ấy là dấu chỉ rõ ràng cho thấy: Thiên Chúa yêu thương con người, và quyền năng của Người luôn hướng về việc giải cứu những kẻ bất hạnh.
Ngày nay, với đà tiến của khoa học và sự phát triển của tri thức, con người đã và đang giải quyết được rất nhiều vấn đề từng được coi là nan giải. Những căn bệnh, những khó khăn vật chất hay xã hội, từng làm con người bất lực, nay phần nào đã được đẩy lùi. Không thể phủ nhận những thành tựu lớn lao ấy.
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thành thật nhìn nhận rằng: dù tiến bộ và tài giỏi đến đâu, con người vẫn đối diện với những giới hạn không thể vượt qua bằng khoa học hay kỹ thuật. Đó là sự hiện diện dai dẳng của tội lỗi, của sự dữ; là kinh nghiệm “muốn điều tốt mà lại không làm được”; là những tổn thương sâu xa trong tâm hồn; và nhất là thực tại cái chết thiêng liêng – sự xa cách Thiên Chúa. Những “căn bệnh” này, khoa học không thể chữa lành.
Chính trong bối cảnh ấy, Lời Chúa hôm nay vang lên như một lời mời gọi và một niềm hy vọng. Đoạn Tin Mừng theo Tin Mừng theo thánh Mác-cô cho thấy uy quyền đặc biệt của Đức Giêsu: Người giảng dạy với thẩm quyền, và chỉ bằng Lời của Người, thần ô uế phải im lặng và xuất ra. Quyền năng ấy không chỉ thuộc về quá khứ, nhưng vẫn đang hoạt động trong hiện tại của Hội Thánh, nơi Lời Chúa được công bố, lắng nghe và thực hành.
Ai biết mở lòng đón nhận Lời Chúa, biết tin tưởng và gắn bó với Lời ấy, người đó có cơ hội được giải phóng khỏi những bất hạnh sâu xa nhất của đời sống, đặc biệt là trong bình diện tinh thần và thiêng liêng. Ai biết bắt chước bà Anna, kiên trì và chân thành cầu nguyện, phó thác trọn vẹn cho Thiên Chúa, người đó cũng có thể kinh nghiệm được quyền năng giải thoát của Chúa trong đời mình.
Vì thế, chúng ta tạ ơn Thiên Chúa, Đấng không dửng dưng trước cảnh huống của nhân loại, nhưng vì yêu thương, đã sai Con Một của Người đến trần gian để cứu độ chúng ta. Đời sống chúng ta, trên nhiều phương diện, đã được đưa ra khỏi những nỗi bất hạnh, dù đôi khi chúng ta không nhận ra.
Xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta thêm lòng tin, thêm sự gắn bó với Lời Chúa – Lời duy nhất có thể mang lại ánh sáng, sự giải phóng và hạnh phúc đích thực cho đời sống con người.
THỨ TƯ - TUẦN I THƯỜNG NIÊN
1Sm 3,1–10.19–20; Mc 1,29–39
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mác-cô.
Khi ấy Chúa Giê-su ra khỏi hội đường. Người cùng với Gia-cô-bê và Gio-an đến nhà Si-mon và An-rê. Lúc ấy bà nhạc gia của Si-mon cảm sốt nằm trên giường, lập tức người ta nói cho Người biết bệnh tình của bà. Tiến lại gần, Người cầm tay bà, và nâng đỡ dậy. Bà liền khỏi cảm sốt và đi tiếp đãi các Ngài.
Chiều đến, lúc mặt trời đã lặn, người ta dẫn đến Người tất cả những bệnh nhân, tất cả những người bị quỷ ám; và cả thành tụ họp trước cửa nhà. Người chữa nhiều người đau ốm những chứng bệnh khác nhau, xua trừ nhiều quỷ, và không cho chúng nói, vì chúng biết Người. Sáng sớm tinh sương, Người chỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng và cầu nguyện tại đó. Si-mon và các bạn chạy đi tìm Người. Khi tìm được Người, các ông nói cùng Người rằng: “Mọi người đều đi tìm Thầy”. Nhưng Người đáp: “Chúng ta hãy đi đến những làng, những thành lân cận, để Ta cũng rao giảng ở đó nữa”. Và Người đi rao giảng trong các hội đường, trong khắp xứ Ga-li-lê-a và xua trừ ma quỷ.
Suy niệm
Theo truyền thống, thánh Mác-cô được coi là người ghi chép lại các bài giảng của thánh Phê-rô. Mà thánh Phê-rô vốn là một ngư phủ miền Galilê, ít học, lời nói đơn sơ, mộc mạc. Tuy nhiên, các nhà chú giải Thánh Kinh ngày nay nhận ra rằng thánh Mác-cô không chỉ là “thư ký” của Phê-rô, mà còn là tiếng nói của một cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đang sống niềm tin vào Đức Kitô phục sinh. Vì thế, Tin Mừng của ngài, tuy ngắn gọn và giản dị trong ngôn từ, lại hàm chứa một chiều sâu thần học phong phú: mỗi chi tiết, mỗi biến cố đều được chọn lọc để chuyển tải một sứ điệp đức tin sâu xa.
Đoạn Tin Mừng hôm nay là một minh chứng rõ ràng. Thoạt nhìn, đây chỉ là bản tường thuật về một ngày sinh hoạt bình thường của Đức Giêsu: ra khỏi hội đường, chữa bệnh, cầu nguyện và lên đường rao giảng. Nhưng đọc kỹ hơn, ta có thể nhận ra đây là một bản phác họa thần học về sứ mạng cứu thế và con đường mà Đấng Cứu Thế phải đi.
Trước hết, thánh Mác-cô ghi nhận rằng Đức Giêsu rời hội đường Do Thái để đến với miền Galilê. Chi tiết tưởng như địa lý này lại mang một ý nghĩa biểu tượng: Đức Giêsu không giới hạn sứ mạng của mình trong phạm vi Do Thái giáo, nhưng mở ra một chân trời mới, hướng về muôn dân. Galilê, vùng đất pha trộn giữa Do Thái và Dân Ngoại, trở thành hình ảnh báo trước cho sứ mạng phổ quát của Tin Mừng sau này.
Tiếp đến là phép lạ chữa lành bà nhạc của ông Simon. Đức Giêsu nắm lấy tay bà và “nâng dậy”. Động từ này không chỉ diễn tả một hành động chữa bệnh, mà còn gợi đến ngôn ngữ của mầu nhiệm Phục Sinh: Thiên Chúa nâng con người lên khỏi tình trạng suy sụp, yếu liệt, thậm chí là khỏi cõi chết. Việc bà lập tức đứng dậy để phục vụ cho thấy mục đích cuối cùng của ơn cứu độ: được giải phóng để bước vào đời sống phục vụ.
Chiều đến, cả thành tụ tập trước cửa nhà. Các bệnh nhân và những người bị quỷ ám được đưa đến với Đức Giêsu. Điều đã xảy ra nơi bà nhạc của Simon giờ đây được mở rộng cho nhiều người khác. Bà trở thành hình ảnh tiêu biểu cho nhân loại đau khổ: được Đức Kitô Phục Sinh nâng dậy từ thân phận bại liệt do tội lỗi và sự dữ, để bước vào một đời sống mới.
Tuy nhiên, thánh Mác-cô cẩn trọng khi ghi rằng Đức Giêsu “chữa nhiều người”, chứ không phải tất cả. Đây không phải là sự giới hạn quyền năng của Người, nhưng là lời nhắc rằng ơn cứu độ đòi hỏi sự đáp trả của con người. Có những người chưa sẵn sàng tin; có những người không chấp nhận một Đấng Mêsia phải đi qua con đường thập giá; có những người vẫn còn bám víu vào những quan niệm trần tục về vinh quang và quyền lực. Chính vì thế, Đức Giêsu không cho các quỷ tuyên xưng Người, bởi mầu nhiệm của Người chỉ có thể được hiểu trọn vẹn dưới ánh sáng của thập giá và phục sinh.
Sáng sớm tinh mơ, khi mọi người còn đang ngủ, Đức Giêsu đi đến nơi hoang vắng để cầu nguyện. Hình ảnh này mặc khải cho chúng ta mối tương quan thâm sâu giữa Đức Giêsu với Chúa Cha, đồng thời cho thấy nguồn mạch của sứ mạng cứu thế không phải là thành công bên ngoài, mà là sự kết hiệp nội tâm với Thiên Chúa. Trong khi con người còn “ngủ mê” trong những quan niệm hời hợt và thiếu đức tin, thì Đức Giêsu cầu nguyện cho họ.
Khi Simon và các môn đệ tìm thấy Đức Giêsu, họ muốn Người quay lại nơi đang có đông đảo dân chúng. Nhưng Đức Giêsu đáp: “Chúng ta hãy đi nơi khác… vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.” Người không để mình bị giữ lại bởi thành công trước mắt, nhưng tiếp tục lên đường. Sứ mạng cứu thế đòi hỏi phải luôn “đi thêm”, vượt ra khỏi những chỗ an toàn và những não trạng cũ kỹ.
Đoạn Tin Mừng này, qua những câu văn đơn sơ, đã chuyển tải một sứ điệp thần học sâu sắc về căn tính và sứ mạng của Đức Giêsu, như được trình bày trong Tin Mừng theo thánh Mác-cô.
Điều ấy giúp chúng ta hiểu rõ hơn bài đọc I. Muốn có đức tin, muốn nhận ra tiếng Chúa, con người cần học thái độ của ngôn sứ Sa-mu-en: “Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe.” Đức tin không đến từ sự hấp tấp hay nông cạn, mà từ việc lắng nghe Lời Chúa cách kiên trì, chăm chú và trung thành, không để rơi mất một lời nào, như người nông dân quý từng hạt giống.
Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta biết học lấy thái độ lắng nghe của Sa-mu-en, biết bước theo Đức Giêsu trên con đường khổ nạn và phục sinh, can đảm từ bỏ những quan niệm trần tục về thành công và vinh quang. Xin cho chúng ta biết “đi thêm, đi mãi” trên hành trình theo Chúa, để tin Chúa hơn, hiểu Chúa hơn, và cùng với Người, cộng tác vào công trình cứu độ thế gian.
THỨ NĂM - TUẦN I THƯỜNG NIÊN
1Sm 4,1–11; Mc 1,40–45
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mác-cô.
Khi ấy, có một người bệnh cùi đến van xin Chúa Giê-su và quỳ xuống thưa Người rằng: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch”. Ðộng lòng thương, Chúa Giê-su giơ tay đặt trên người ấy và nói: “Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh”. Tức thì bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch. Nhưng Người nghiêm nghị bảo anh đi ngay và dặn rằng: “Anh hãy ý tứ đừng nói gì cho ai biết, một hãy đi trình diện cùng trưởng tế và dâng của lễ theo luật Mô-sê, để minh chứng mình đã được khỏi bệnh”. Nhưng đi khỏi, người ấy liền cao rao và loan truyền tin đó, nên Chúa Giê-su không thể công khai vào thành nào được. Người dừng lại ở ngoài thành, trong những nơi vắng vẻ, và người ta từ khắp nơi tuôn đến cùng Người.
Suy niệm
Tin Mừng theo Tin Mừng theo thánh Mác-cô tiếp tục giới thiệu cho chúng ta những bước đầu trong hoạt động công khai của Đức Giêsu, Đấng được sai đến để cứu độ nhân loại bằng quyền năng và lòng xót thương của Thiên Chúa. Đoạn Tin Mừng hôm nay kể lại việc Đức Giêsu chữa lành một người phong cùi – một phép lạ mang chiều sâu thần học đặc biệt, vượt xa một hành vi chữa bệnh thông thường.
Trong não trạng Do Thái thời bấy giờ, bệnh phong cùi không chỉ là một căn bệnh thể lý, mà còn là một tình trạng loại trừ toàn diện. Người phong cùi bị coi là ô uế, bị tách khỏi cộng đoàn, bị cắt đứt các mối tương quan xã hội và tôn giáo. Họ phải sống cách ly, phải cảnh báo người khác đừng đến gần. Nói cách khác, người phong cùi bị xem như đã chết khi còn sống.
Vì thế, phép lạ Đức Giêsu thực hiện hôm nay có thể sánh với việc làm cho kẻ chết sống lại. Khi chữa lành người phong cùi, Đức Giêsu không chỉ trả lại sức khỏe, mà còn trả lại quyền được sống như một con người trọn vẹn, được tái hội nhập vào cộng đoàn, được bước trở lại đời sống xã hội và tôn giáo.
Các phép lạ của Đức Giêsu luôn là dấu chỉ cho thấy Nước Trời đã đến gần. Việc Người bảo người phong cùi đi trình diện tư tế và dâng của lễ theo luật Môsê không phải là một chi tiết phụ. Đó là một lời nhắn gửi âm thầm nhưng mạnh mẽ đến giới lãnh đạo tôn giáo: điều mà Lề Luật không thể làm được, thì nay Thiên Chúa đang thực hiện qua Đức Giêsu. Nước Trời không còn là một lời hứa xa xôi, nhưng đã hiện diện và hoạt động giữa dân Người.
Phép lạ này thực sự là một cuộc cách mạng. Nó lật đổ quan niệm cứng nhắc về sạch và dơ, quan niệm từng đẩy những con người khốn khổ ra bên lề xã hội. Đức Giêsu không chỉ xóa bỏ sự ô uế của người phong cùi, mà còn vạch trần một não trạng tôn giáo khép kín, sợ hãi và loại trừ.
Chi tiết gây xúc động và mang chiều sâu thần học nhất chính là việc Đức Giêsu giơ tay chạm vào người phong cùi. Theo Lề Luật, hành động ấy khiến Người trở nên ô uế. Nhưng Đức Giêsu không tránh né. Người chấp nhận “mắc ô uế”, chấp nhận nguy hiểm và thiệt thòi cho bản thân, để tỏ bày sự liên đới trọn vẹn với kẻ bị xã hội ruồng bỏ. Đây không chỉ là một cử chỉ nhân đạo, mà là một mặc khải sâu xa về con đường cứu độ: Thiên Chúa không cứu con người từ xa, nhưng cứu bằng cách bước vào chính thân phận của con người.
Cử chỉ ấy báo trước mầu nhiệm khổ nạn: Đức Giêsu sẽ mang lấy tội lỗi nhân loại, thậm chí “trở thành sự tội” vì chúng ta, để nhờ cái chết và sự phục sinh của Người, con người được thanh tẩy và sống lại. Vì mầu nhiệm ấy chưa hoàn tất, nên Đức Giêsu cấm người được chữa lành loan truyền sự việc, để tránh việc Người bị hiểu lầm chỉ như một nhà làm phép lạ hay một thứ “phù thủy tôn giáo”, và để tránh việc sứ mạng cứu thế bị giản lược vào những thành công bề ngoài.
Chiều kích liên đới của Đức Giêsu giúp chúng ta hiểu sâu hơn bài đọc I. Trình thuật về Hòm Bia Thiên Chúa cho thấy một Thiên Chúa sẵn sàng ở giữa Dân Người. Đấng tạo thành vũ trụ lại tự thu mình trong Hòm Bia, để con người có thể khiêng đi, đặt ở giữa doanh trại, và tin rằng Người đang cùng họ giao chiến. Đó là một hình ảnh mạnh mẽ về một Thiên Chúa không xa cách, nhưng liên đới đến mức chấp nhận cả sự yếu đuối và bất lực của con người.
Thế nhưng, biến cố Hòm Bia cũng cho thấy một sự thật đau lòng: Thiên Chúa không thể cứu con người nếu con người không muốn cộng tác với Người. Thất bại của Israel hôm ấy không phải vì Thiên Chúa yếu kém, mà vì tội lỗi và đời sống sa đọa của những người lãnh đạo. Thiên Chúa đã ở giữa Dân, nhưng Dân lại không sống trung tín. Và trong sự liên đới ấy, Thiên Chúa chấp nhận mang lấy cả thất bại của con người.
Hôm nay cũng vậy. Thiên Chúa Cha và Đức Giêsu Kitô vẫn đang ở rất gần chúng ta. Trong mỗi thánh lễ, Chúa hiện diện giữa cộng đoàn, không dựng lên hàng rào phân biệt, không loại trừ ai. Người tiếp tục liên đới với chúng ta trong cuộc chiến chống lại sự dữ, và lấy chính Máu mình để thanh tẩy chúng ta, làm cho chúng ta nên sạch.
Đứng trước tình yêu liên đới ấy, chúng ta được mời gọi xét lại cách mình nhìn và đối xử với tha nhân. Chúng ta có vô tình dựng lên những “hàng rào ô uế” mới không? Có loại trừ, phán xét hay khinh thường những người yếu đuối, tội lỗi, khác biệt không?
Xin Chúa ban cho chúng ta trái tim giống như trái tim của Đức Giêsu: biết yêu thương không điều kiện, biết nhìn mọi người bằng ánh mắt xót thương của Thiên Chúa. Bởi vì trước mặt Chúa, không ai bị loại trừ, và mỗi con người – dù tốt hay xấu – đều được yêu thương đến cùng.
THỨ SÁU - TUẦN I THƯỜNG NIÊN
1Sm 8,4–7.10–22a; Mc 2,1–12
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mác-cô.
Sau ít ngày, Chúa Giê-su lại trở về Ca-phác-na-um; nghe tin Người đang ở trong nhà, nhiều người tuôn đến đông đảo, đến nỗi ngoài cửa cũng không còn chỗ đứng, và Người giảng dạy họ. Người ta mang đến cho Người một kẻ bất toại do bốn người khiêng. Vì dân chúng quá đông, không thể khiêng đến gần Người được, nên họ dỡ mái nhà trên chỗ Người ngồi một lỗ to, rồi thòng chiếc chõng với người bất toại xuống. Thấy lòng tin của họ, Chúa Giê-su nói với người bất toại rằng: “Hỡi con, tội lỗi con được tha”. Lúc ấy, có một ít luật sĩ ngồi đó, họ thầm nghĩ rằng: “Sao ông này lại nói thế? Ông nói phạm thượng. Ai có quyền tha tội, nếu không phải là một mình Thiên Chúa”. Chúa Giê-su biết tâm trí họ nghĩ như vậy, liền nói với họ: “Tại sao các ông nghĩ như thế? Nói với người bất toại này: “Tội lỗi con được tha” hay nói: “Hãy chỗi dậy vác chõng mà đi”, đàng nào dễ hơn? Nhưng (nói thế là) để các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất”. – Người nói với kẻ bất toại: “Ta truyền cho con hãy chỗi dậy, vác chõng mà về nhà”. Lập tức người ấy đứng dậy, vác chõng ra đi trước mặt mọi người, khiến ai nấy sửng sốt và ngợi khen Thiên Chúa rằng: “Chúng tôi chưa từng thấy như thế bao giờ”.
Suy niệm
Đoạn Tin Mừng hôm nay tiếp tục đưa chúng ta vào những bước đầu của thời kỳ Đức Giêsu hoạt động công khai. Tuy sứ vụ của Người mới khởi sự, nhưng bóng dáng của sự chống đối đã sớm xuất hiện. Điều đáng chú ý là sự chống đối ấy không đến từ những người tội lỗi hay dân chúng bình thường, mà từ chính các luật sĩ – những người chuyên đọc Kinh Thánh, giảng dạy Lề Luật và hướng dẫn dân chúng sống đạo.
Khi nghe Đức Giêsu nói với người bại liệt: “Con ơi, tội lỗi con đã được tha”, các luật sĩ liền thắc mắc và phản đối trong lòng. Xét về mặt thần học thuần túy, điều họ nghĩ không hẳn là sai: “Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa?” Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: trước một thực tại mới mẻ và sống động, họ đã khép kín lòng mình.
Họ đã không chịu mở mắt để nhìn thấy những dấu chỉ hiển nhiên đang diễn ra trước mặt: uy quyền trong lời giảng của Đức Giêsu, hiệu quả giải phóng của các phép lạ, lòng tin mạnh mẽ của dân chúng đang nườm nượp kéo đến với Người. Thay vì để những dấu chỉ ấy chất vấn và hoán cải mình, họ lại lấy chính suy nghĩ và khuôn khổ của mình làm tiêu chuẩn tuyệt đối.
Đằng sau sự thắc mắc có tính chống đối ấy là một thực tại rất nhân bản nhưng cũng rất nguy hiểm: lòng dạ tự cao, tự tôn và cứng ngắc của con người. Từ chỗ là những người phục vụ Lề Luật và Lời Chúa, họ dần dần đặt mình lên trên Lề Luật; từ chỗ là người hướng dẫn dân nhận ra Thiên Chúa, họ lại trở thành những kẻ đòi Thiên Chúa phải hành động theo khuôn mẫu của mình. Chính thái độ ấy làm cho họ mù lòa trước sự hiện diện của Thiên Chúa đang ở giữa họ.
Thánh sử Mác-cô, trong Tin Mừng theo thánh Mác-cô, cho thấy Đức Giêsu không né tránh sự chống đối ấy. Người đọc được những suy nghĩ thầm kín trong lòng họ và đặt ra một câu hỏi then chốt: “Trong hai điều, điều nào dễ hơn?” Và để chứng tỏ rằng Con Người có quyền tha tội dưới đất, Người chữa lành người bại liệt. Phép lạ thể lý trở thành dấu chỉ hữu hình cho một thực tại vô hình: quyền năng tha thứ và tái tạo con người từ bên trong.
Bài đọc I cho thấy ảnh hưởng độc hại của “lòng dạ con người” không phải là điều mới mẻ. Trong thời Cựu Ước, dân Israel đã từng sống dưới chế độ thần quyền, nhận chính Thiên Chúa làm Vua. Nhưng theo thời gian, vì lòng ham hư danh và ao ước được giống các dân tộc chung quanh, họ đòi có vua cho bằng người ta. Đó là bước ngoặt đau lòng: từ chỗ sống trong mối tương quan đặc biệt với Thiên Chúa, họ chấp nhận trở thành một dân tộc “phàm tục” như bao dân khác.
Qua ngôn sứ Sa-mu-en, Thiên Chúa cảnh báo trước những hệ lụy của chế độ quân chủ: sự lạm quyền, áp bức và bóc lột. Lịch sử sau này cho thấy những lời cảnh báo ấy đã trở thành hiện thực, đặc biệt dưới thời Sa-lô-môn và nhiều vua kế tiếp. Thiên Chúa vẫn trung tín, nhưng lòng dạ con người đã đổi thay, và chính điều đó đưa họ vào những khốn đốn nặng nề.
Cả hai bài đọc hôm nay đều quy tụ về một điểm chung: lòng dạ con người là nơi cần được canh chừng và hoán cải không ngừng. Khi con người để cho tính tự cao, ích kỷ và khép kín chi phối, thì ngay cả những điều tốt đẹp nhất – Lề Luật, tôn giáo, quyền bính – cũng có thể bị biến dạng và trở thành cản trở cho công trình của Thiên Chúa.
Trước lời Chúa hôm nay, mỗi người chúng ta được mời gọi tự vấn: chúng ta có đang vô tình lấy mình làm trung tâm, lấy quan điểm của mình làm thước đo cho mọi sự không? Chúng ta có đủ khiêm tốn để để cho Thiên Chúa làm mới cách nghĩ, cách nhìn và cách sống của mình không?
Xin Đức Giêsu uốn nắn lòng chúng ta nên giống trái tim hiền lành, khiêm nhường và thánh thiện của Người. Xin Người ban ơn để chúng ta từng ngày chế ngự được những khuynh hướng xấu xa nơi con người cũ, giải thoát chúng ta khỏi sự cứng ngắc và tự mãn, để chúng ta biết phục vụ Thiên Chúa và anh chị em với một cõi lòng trong sáng, rộng mở và đầy lòng xót thương.
THỨ BẢY
1Sm 9,1–4.17–19; 10,1a; Mc 2,13–17
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mác-cô.
Khi ấy Chúa Giê-su đi dọc theo bờ biển, toàn dân đến cùng Người và Người giảng dạy họ. Khi vừa đi qua, Người thấy ông Lê-vi con của An-phê, đang ngồi nơi bàn thu thuế. Người bảo ông: “Hãy theo Ta”. Ông liền đứng dậy theo Người. Và xảy ra là khi Người dùng bữa tại nhà ông, nhiều người thu thuế và tội lỗi cùng đồng bàn với Chúa Giê-su và các môn đệ của Người, vì đã có nhiều kẻ theo Người. Những luật sĩ và biệt phái thấy Người ngồi ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi, liền nói với các môn đệ Người rằng: “Tại sao thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi?” Nghe vậy, Chúa Giê-su bảo họ: “Những người khoẻ mạnh không cần gì đến thầy thuốc, nhưng là những người đau yếu. Ta không đến để kêu gọi những người công chính, mà kêu gọi những người tội lỗi”.
Suy niệm
Việc Thiên Chúa kén chọn hay kêu gọi con người luôn là một mầu nhiệm, bởi vì đó là hành vi hoàn toàn tự do của Thiên Chúa. Không ai có thể buộc Thiên Chúa phải chọn người này hay người kia; cũng không có tiêu chuẩn thuần túy nhân loại nào có thể giải thích trọn vẹn những chọn lựa của Người. Chính vì thế, mỗi lần suy niệm về ơn gọi và sự tuyển chọn, chúng ta được mời gọi bước vào thái độ thờ lạy và khiêm tốn, hơn là tìm cách giải thích cho thỏa trí.
Bài đọc I hôm nay kể lại việc Thiên Chúa kén chọn Sa-un làm vị vua đầu tiên của Israel. Đây là một chọn lựa thuộc lãnh vực chính trị – xã hội, nên xét theo nhãn quan con người, ta có thể phần nào hiểu được: Sa-un là người cao lớn, lanh lợi, có những phẩm chất bên ngoài phù hợp với vai trò lãnh đạo. Dẫu vậy, việc Thiên Chúa chọn Sa-un vẫn là một mầu nhiệm, bởi ông không thuộc một chi họ lớn, nhưng chỉ xuất thân từ chi họ Ben-gia-min nhỏ bé. Qua đó, Thánh Kinh cho thấy: ngay cả khi Thiên Chúa chọn theo những tiêu chí con người có thể nhận ra, thì quyết định ấy vẫn hoàn toàn phát xuất từ sự tự do của Người.
Tuy nhiên, khi bước sang lãnh vực Nước Trời, mầu nhiệm tuyển chọn của Thiên Chúa còn trở nên bất ngờ và khó hiểu hơn gấp bội. Đoạn Tin Mừng theo Tin Mừng theo thánh Mác-cô hôm nay cho chúng ta thấy điều đó một cách rõ nét qua việc Đức Giêsu kêu gọi Lê-vi.
Trong mắt người Do Thái thời bấy giờ, Lê-vi – một người thu thuế – là kẻ tội lỗi công khai, bị xã hội khinh bỉ và loại trừ. Nghề nghiệp của ông gắn liền với sự bất công, bóc lột và cộng tác với ngoại bang. Đối với họ, Lê-vi không xứng đáng thuộc về Dân Chọn, càng không thể là người được Thiên Chúa kêu gọi.
Thế nhưng, Đức Giêsu lại dừng lại, nhìn ông và nói: “Anh hãy theo tôi.” Không một lời trách móc, không một điều kiện tiên quyết. Chỉ có một lý do duy nhất có thể giải thích hành động ấy: tình thương. Đức Giêsu gọi Lê-vi không phải vì ông tốt lành, nhưng vì ông đáng thương; không phải vì ông xứng đáng, nhưng vì ông cần được cứu độ. Tình thương của Thiên Chúa luôn chảy về phía kẻ yếu đuối, tội lỗi và chưa trọn hảo.
Chính vì thế, việc Đức Giêsu chọn Lê-vi không chỉ nói lên điều gì đó về Lê-vi, mà còn mặc khải chính căn tính của Đức Giêsu: Người là Đấng đến để tìm và cứu những gì đã hư mất. Người không đến để củng cố sự tự mãn của những người cho mình là công chính, nhưng để mở ra con đường hoán cải và sự sống cho những kẻ bị coi là xa cách Thiên Chúa.
Từ câu chuyện này, chúng ta được mời gọi nhìn lại cách hiểu của mình về việc Thiên Chúa kén chọn.
Trước hết, nếu đối với chúng ta, chọn lựa thường là hướng về cái tốt, cái mạnh, cái phù hợp với tiêu chuẩn của mình, thì đối với Thiên Chúa, chọn lựa lại là hướng về kẻ tội lỗi, kẻ bất toàn, kẻ cần được chữa lành và biến đổi. Việc chọn lựa của Người không bị chi phối bởi công trạng, mà hoàn toàn được điều khiển bởi tình thương.
Thứ đến, việc được Thiên Chúa kén chọn luôn là một Tin Mừng, đặc biệt là Tin Mừng cho kẻ tội lỗi. Không ai bị loại trừ khỏi tầm nhìn yêu thương của Thiên Chúa; trái lại, chính những người bị xã hội gạt ra bên lề lại thường là những người đầu tiên được Người đoái thương.
Hơn nữa, việc Thiên Chúa kén chọn một người không bao giờ có nghĩa là loại trừ những người khác. Trái lại, đó là để phục vụ và mang lại ích lợi cho nhiều người. Sa-un được chọn để cả dân Israel có người lãnh đạo. Lê-vi được gọi để trở thành tông đồ, hầu Hội Thánh được xây dựng. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, cả người được chọn lẫn người chưa được gọi đều là đối tượng của cùng một tình yêu.
Sau cùng, mầu nhiệm tuyển chọn của Thiên Chúa không nhằm gây mặc cảm hay lo sợ. Thiên Chúa không đòi hỏi con người phải hoàn hảo trước rồi mới yêu thương. Chính trong tình trạng bất xứng, con người lại càng được Người quan tâm, mời gọi và biến đổi.
Trong thực tế, mỗi người chúng ta hôm nay đều đã được Thiên Chúa kén chọn khi ban cho chúng ta đức tin và cho chúng ta được làm Kitô hữu. Ơn gọi ấy hoàn toàn nhưng không, không dựa trên tài năng, địa vị hay công trạng của chúng ta. Vì thế, chúng ta được mời gọi biết ơn, khiêm tốn, và đừng vênh vang về mình; cũng đừng chạy theo việc củng cố cái tôi và những giá trị chóng qua của thế gian.
Xin cho chúng ta biết đón nhận ơn được chọn như một lời mời gọi phục vụ: đem con người, thời gian và khả năng của mình cộng tác với Thiên Chúa, để yêu thương và phục vụ anh chị em. Đó cũng chính là con đường mà Đức Giêsu – Đấng đã gọi Lê-vi – và Mẹ Maria, người nữ tỳ khiêm hạ của Thiên Chúa, đang mời gọi chúng ta bước theo mỗi ngày.
